|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU TỈNH GIA LAI Bản án số: 113/2024/HSST Ngày: 21-6-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm Phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Nhàn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quang Vinh
Bà Tô Thị Lành
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Hà – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Cao Thảo Nga - Kiểm sát viên
Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 117/2024/HSST ngày 29 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 120/2024/QĐXXST-HS ngày 31-5-2024 đối với bị cáo:
TRÁNG VĂN NGHĨA (tên gọi khác: Gia N), sinh ngày 09/11/2001 tại Lào Cai; nơi ĐKHKTT: Thôn Q, xã D, huyện C, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Lái xe taxi; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tráng Văn Q , sinh năm 1962 và bà Lê Thị L , sinh năm 1966; bị cáo có 04 anh, chị, em ruột, lớn nhất sinh năm 1991 và nhỏ nhất năm 1997; bị cáo là con út trong gia đình; bị cáo có vợ là Dương Thị Hồng N1 , sinh năm 2002; có 01 con, sinh năm 2023.
Tiền án: Không, tiền sự: Không.
Bị cáo Tráng Văn N2 bị tạm giữ từ ngày 13/12/2023 đến ngày 22/12/2023, sau đó bị tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P. Có mặt.
- Bị hại:
Anh Nguyễn Lê C, sinh năm 1990; địa chỉ: Hẻm B N, Tổ H, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Trên cơ sở kết quả điều tra, xác định được như sau:
Tráng Văn N2 làm nghề lái xe taxi. Khoảng 00 giờ 05’ngày 06/12/2023, N2 điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Elantra, màu trắng (không có biển số) đến lề đường Nguyễn T đậu phía sau xe ô tô tải biển số 81C – 16387 do anh Nguyễn Lê C (sinh năm 1990, trú tại hẻm S đường N, Tổ H, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai) đậu tại đây từ trước, rồi N2 đi vào nhà nghỉ V, hẻm B đường N, Tổ H, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai để ngủ. Khoảng 09 giờ sáng cùng ngày, N2 ngủ dậy đi ra ngoài lấy xe để đi thì thấy xe ô tô của N2 bị trầy, xước, vỡ nhựa ở phần đầu xe bên phải, còn xe ô tô biển số 81C – 16387 đã đi khỏi vị trí đậu trước đó; cho rằng anh C điều khiển xe ô tô biển số 81C – 16387 tải đã va quẹt, làm hư hỏng xe ô tô của N2, sau đó N2 điều khiển xe về nhà và đi sửa xe hết số tiền là 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng). Bực tức vì xe ô tô mới mua bị hư hỏng nên khoảng 01 giờ ngày 11/12/2023, N2 một mình điều khiển xe ô tô đến khu vực xảy ra vụ việc trên tìm anh C để yêu cầu bồi thường tiền sửa chữa hư hỏng xe, khi đến nơi N2 thấy xe ô tô biển số 81C – 16387 của anh C đang đậu nhưng không thấy anh C đâu. Lúc này, N2 liền gọi điện thoại rủ T1 (không xác định được nhân thân, lai lịch) là người quen với N2 đến giúp N2 lấy số tiền 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) từ anh C thì T1 đồng ý. Khi T1 đến thì N2 và Tân ngồi trên xe ô tô đợi anh C ra. Khoảng 15 phút sau, T1 và N2 thấy anh C một mình đi bộ đến, lên xe ô tô tải biển số 81C – 163.87 chuẩn bị điều khiển xe đi thì N2 xuống xe, mang theo 01 (một) khẩu súng (loại súng bắn pháo đồ chơi, do N2 mua trên mạng xã hội Facebook) cất vào trong túi quần, đi đến cửa xe bên tài của xe ô tô biển số 81C – 163.87, rồi chĩa súng về phía anh C, yêu cầu anh C xuống xe; khi anh C xuống xe thì N2 hỏi anh C tại sao tông vào xe N2 rồi bỏ đi; anh C chưa trả lời thì T1 đi đến dùng tay, chân đánh nhiều nhát vào vùng lưng, bụng và cơ thể anh C thì N2 can ngăn không cho T1 đánh anh C, N2 cất súng vào trong túi quần rồi tiếp tục hỏi anh C về việc tông xe làm hư hỏng xe của N2; anh C trả lời không biết ai tông thì bị T1 tiếp tục dùng tay đánh anh C và cùng N2 yêu cầu anh C phải bồi thường cho N2 số tiền là 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng), anh C nói không biết, không làm hư hỏng xe ô tô của N2 và nói không có tiền thì T1 yêu cầu anh C lấy ví ra và mở tài khoản ngân hàng trên điện thoại di động để kiểm tra. Thấy anh C chỉ còn vài trăm nghìn trong ví và 700.000 đồng tiền trong tài khoản nên N2 và T1 yêu cầu anh C đưa giấy tờ xe gồm: 01 (một) chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số 81C – 163.87, 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô biển số 81C – 163.87 và 01 (một) giấy phép lái xe hạng C của anh C cho N2 giữ và yêu cầu anh C trong ngày 11/12/2023 phải trả đủ cho N2 số tiền là 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) thì N2 mới trả lại giấy tờ, rồi N2 cầm toàn bộ giấy tờ cùng Tân bỏ đi. Đến ngày 13/12/2023, N2 đến Cơ quan Công an đầu thù và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Bị cáo Tráng Văn N2 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
2. Các vấn đề khác:
Qua trưng cầu, tại Kết luận số: 757/KL-KTHS ngày 10/5/2024 của Phòng K - Công an tỉnh G kết luận: “Vật giám định là súng đồ chơi nguy hiểm”.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận nêu trên.
3. Cáo trạng của Viện kiểm sát:
Bản cáo trạng số: 137/CT-VKS ngày 27-5-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Tráng Văn N2 về tội: “Cưỡng đoạt tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 170 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Tráng Văn N2 và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hình sự:
Tuyên bố bị cáo Tráng Văn N2 phạm tội: “Cưỡng đoạt tài sản”.
Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Tráng Văn N2 với mức án từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng:
Đối với 01 súng ngắn bằng kim loại màu đồng, tại búa đập của súng có ghi số 10035. Nòng súng có kích thước rộng 02cm, dài 11,2cm. Báng súng có kích thước rộng 02cm; cò súng dài 1,7cm; búa đập có kích thước dài 2,5cm; ổ quay có kích thước (0,25 x 0,25)cm, là công cụ bị cáo đã sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Vật chứng trên không có giá trị sử dụng. Do đó, đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án:
Bị cáo thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất hối hận vì việc làm của mình, kính mong Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc có khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi bị truy tố của bị cáo:
Xét thấy lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Tráng Văn N2 phạm tội như sau:
Do nghi ngờ anh Nguyễn Lê C là người làm hư hỏng xe ô tô của mình, vào ngày 11/12/2023, tại đường N, thuộc Tổ H, phường Y, thành phố P, Tráng Văn N2 cùng đối tượng tên T1 (không xác định được nhân thân, lai lịch) đã có hành vi dùng súng (loại súng đồ chơi nguy hiểm) đe dọa, yêu cầu anh Nguyễn Lê C phải đưa cho N2 số tiền 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) nhưng anh C không đồng ý, thì bị T1 dùng tay, chân đánh. Sau đó, N2 và T1 lấy giấy tờ xe ô tô của anh C và yêu cầu anh C phải đưa đủ số tiền 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) thì N2 mới trả lại giấy tờ xe trên cho anh C. Sau đó, anh C đến Cơ quan Công an trình báo toàn bộ sự việc. Đến ngày 13/12/2023, Tráng Văn N2 đến Công an phường Y đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm
...”
Quyền sở hữu về tài sản được pháp luật bảo vệ. Mọi hành vi xâm phạm trái phép đều bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Tráng Văn Nghĩa là người đã trưởng thành, có nhận thức, tuy nhiên, chỉ vì nghi ngờ bị hại là người làm hư hỏng xe ô tô của mình mà bị cáo đã có hành vi dùng súng (loại súng đồ chơi nguy hiểm) đe dọa để yêu cầu bị hại phải đưa số tiền 15.000.000đồng, cùng với đó bị hại còn bị T1 (người mà bị cáo rủ đi cùng) dùng tay, chân đánh bị hại để uy hiếp và lấy giấy tờ xe của bị hại để yêu cầu bị hại đưa số tiền 15.000.000đồng mới trả lại giấy tờ xe cho bị hại. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Hành vi phạm tội của bị cáo đã gây mất trật tự trị an tại địa phương. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Cưỡng đoạt tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đã truy tố là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần xử phạt bị cáo một mức án tù có thời hạn tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, nhằm giáo dục bị cáo cải tạo bản thân tiến bộ là cần thiết.
[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Bị cáo N2 không có tình tiết tăng nặng.
Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là bị cáo có nhân thân tốt; sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú, trong quá trình điều tra bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo, tại phiên tòa hôm nay bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
[4] Về dân sự: Tại phiên tòa hôm nay anh Nguyễn Lê C không có yêu cầu gì về dân sự, vì vậy Hội đồng xét xử không giải quyết.
[5] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số 81C -163.87; 01 giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô biển số 81C – 163.87 và 01 giấy phép lái xe hạng C đứng tên Nguyễn Lê C thu giữ được, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã trả lại cho chủ tài sản là anh Nguyễn Lê C là phù hợp.
Đối với 01 súng ngắn bằng kim loại màu đồng, tại búa đập của súng có ghi số 10035. Nòng súng có kích thước rộng 02cm, dài 11,2cm. Báng súng có kích thước rộng 02cm; cò súng dài 1,7cm; búa đập có kích thước dài 2,5cm; ổ quay có kích thước (0,25 x 0,25)cm, là công cụ bị cáo đã sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, (được đựng trong một bì công văn không ghi số được niêm phong có đóng dấu của phòng K Công an tỉnh G, có các chữ ký ghi họ và tên Nguyễn Trọng D, Lưu Minh H). Xét đây là vật chứng của vụ án, không có giá trị sử dụng. Do đó, cần tịch thu tiêu hủy.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Các vấn đề khác:
Đối với đối tượng tên T1 là người cùng thực hiện hành vi cưỡng đoạt tài sản với Tráng Văn N2, quá trình điều tra xác định bị cáo N2 không biết nhân thân, lai lịch của T1 ở đâu. Do đó, chưa có căn cứ để xử lý, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau là phù hợp.
Đối với hành vi sử dụng súng để uy hiếp anh Nguyễn Lê C, qua giám định xác định khẩu súng mà Tráng Văn N2 sử dụng là súng đồ chơi nguy hiểm, không phải là vũ khí quân dụng, không phải là công cụ hỗ trợ. Do đó, Cơ quan điều tra không xử lý đối với N2 về hành vi này là đúng pháp luật.
[8] Về án phí: Bị cáo Tráng Văn N2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH;
Căn cứ khoản 1 Điều 170; điểm s khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Tráng Văn N2.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tráng Văn N2 phạm tội: “Cưỡng đoạt tài sản”.
-
Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Tráng Văn N2 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13 tháng 12 năm 2023.
-
Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì công văn không ghi số được niêm phong có đóng dấu của phòng K Công an tỉnh G, có các chữ ký ghi họ và tên Nguyễn Trọng D, Lưu Minh H.
(Tất cả theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06-6-2024 giữa Công an thành phố P và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai)
-
Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo: Tráng Văn N2 phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo:
Căn cứ vào các Điều 331 và 333 của Bộ luật tố Tụng hình sự năm 2015;
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại có quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Văn Nhàn |
6
Bản án số 113/2024/HSST ngày 21/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI về hình sự sơ thẩm (cưỡng đoạt tài sản)
- Số bản án: 113/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cưỡng đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tráng Văn N phạm tội "Cưỡng đoạt tài sản"
