|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 113/2025/DS-ST Ngày: 21-3-2025 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ------------------------------------------------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO – TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thơm.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Cẩm Giang.
Ông Đoàn Thanh Phong.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thơ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Võ Hồng Linh – Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 và ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 511/2024/TLST-DS ngày 22 tháng 10 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2025/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2025/QĐST-DS ngày 26 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ.
Địa chỉ: Số A T, phường L, quận H, thành phố Hà Nội.
Đại diện theo pháp luật: Ông Lê Ngọc L. Chức vụ: Tổng giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn T. Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh M, tỉnh Tiền Giang (Theo Quyết định số 3828/QĐ-BIDV ngày 01/7/2024).
Địa chỉ: Số C L, Phường A, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
Đại diện theo ủy quyền lại tham gia tố tụng: Ông Phạm Văn Mười H. Chức vụ: Giám đốc Phòng G, tỉnh Tiền Giang (Theo Quyết định số 944/BIDV.MT-QLRR ngày 14/10/2024) (Có mặt).
Địa chỉ: Số E ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Bị đơn:
- Bà Nguyễn Thị Lan D, sinh năm 1985 (Có mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang. - Ông Phan Thanh H1, sinh năm 1983 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp B, xã N, huyện T, tỉnh Long An.
Địa chỉ liên hệ của bà D, ông H1: Ấp B, xã S, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ có người đại diện theo ủy quyền là ông Phạm Văn Mười H trình bày:
Ngày 02/6/2023, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ – Chi nhánh M – Phòng G (Sau đây gọi tắt là Ngân hàng) ký kết Hợp đồng cấp hạn mức thấu chi số 01/2023/11284491/HĐTD với bà D, ông H1 với các nội dung thỏa thuận như sau: Hạn mức thấu chi được cấp là 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng), mục đích vay là phục vụ nhu cầu đời sống, thời hạn cấp hạn mức là 12 tháng từ ngày 02/6/2023 đến hết ngày 02/6/2024, lãi suất cho vay là 11%/năm, lãi suất quá hạn là bằng 150% lãi suất trong hạn, lãi chậm trả là 10%/năm tính trên số tiền lãi chậm trả, phương thức trả nợ lãi, gốc là trả lãi 01 tháng 01 lần vào ngày 28 dương lịch, nợ gốc trả theo hợp đồng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Ngân hàng đã tiến hành giải ngân cho bà D, ông H1 theo lịch sử giao dịch qua tài khoản. Đến hạn hợp đồng ngày 02/6/2024, bà D, ông H1 không thanh toán dư nợ nên đã chuyển sang nợ quá hạn.
Tính đến ngày 18/3/2025, nợ gốc là 999.950.000 đồng và nợ lãi là 328.304.667 đồng, tổng cộng 1.328.254.667 đồng (Một tỷ, ba trăm hai mươi tám triệu, hai trăm năm mươi bốn nghìn, sáu trăm sáu mươi bảy đồng). Ngân hàng yêu cầu ông H1, bà D phải thực hiện việc thanh toán các khoản nợ cho Ngân hàng khi bản án có hiệu lực pháp luật, đồng thời kể từ ngày 19/3/2025, ông H1, bà D còn phải tiếp tục chịu các khoản lãi, phí phát sinh từ các hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa hai bên cho đến khi hoàn tất nghĩa vụ thanh toán.
Để bảo đảm cho các hợp đồng tín dụng, bà D và ông H1 đã thế chấp quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 230, tờ bản đồ số 27, diện tích 555m², đất ở nông thôn (200m²) và đất trồng cây lâu năm (355m²), đất tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS27181 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 17/01/2018 cho bà Nguyễn Thị Lan D và ông Phan Thanh H1. Việc thế chấp được lập thành Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2022/11284491/HĐBĐ ngày 24/5/2022 được công chứng cùng ngày tại Phòng C, tỉnh Tiền Giang và được đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, tỉnh Tiền Giang ngày 24/5/2022.
Do đó, trong trường hợp ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật, bà D, ông H1 không thực đúng và đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền cưỡng chế, phát mãi toàn bộ các tài sản bảo đảm để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
Mặt khác, Ngân hàng còn yêu cầu bà D, ông H1 phải thanh toán chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ liên quan đến thửa đất thế chấp là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).
Ngoài ra, Ngân hàng không có yêu cầu nào khác.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Lan D và ông Phan Thanh H1 vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng, chưa gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.
Tại phiên tòa:
Ông Phạm Văn Mười H là người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Đồng thời trình bày bổ sung, ngoài hợp đồng tín dụng năm 2023 đã nêu, trước đó vào ngày 24/5/2022, Ngân hàng còn giải ngân cho bà D, ông H1 số tiền vay 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng) theo Hợp đồng cấp hạn mức thấu chi số 01/2022/11284491/HĐTD với những nội dung thỏa thuận tương tự. Đến ngày 28/4/2023, bà D, ông H1 đáo hạn và thanh toán dứt nợ gốc cho Ngân hàng nhưng còn nợ lại số tiền lãi là 5.602.391 đồng (Năm triệu, sáu trăm lẻ hai nghìn, ba trăm chín mươi mốt đồng). Đến ngày 02/6/2023 khi ký kết hợp đồng tín dụng mới dư nợ lãi của hợp đồng tín dụng cũ là 6.536.123 đồng (Sáu triệu, năm trăm ba mươi sáu nghìn, một trăm hai mươi ba đồng) đã được chuyển qua trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng mới. Trong số tiền lãi tính đến ngày 18/3/2025, số tiền lãi của hợp đồng năm 2022 là 7.546.247 đồng (Bảy triệu, năm trăm bốn mươi sáu nghìn, hai trăm bốn mươi bảy đồng).
Bị đơn bà Nguyễn Thị Lan D thống nhất lời trình bày của Ngân hàng liên quan đến nội dung giao kết hợp đồng tín dụng giữa hai bên, bà D đồng ý cùng ông H1 thanh toán các khoản nợ với Ngân hàng. Tuy nhiên, do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên bà D xin Ngân hàng giảm các khoản lãi và kéo dài thời gian thanh toán sau 03 tháng kể từ ngày xét xử sơ thẩm để ông bà có thời gian chuyển nhượng quyền sử dụng đất và thanh toán dứt điểm các khoản nợ với Ngân hàng. Bị đơn ông Phan Thanh H1 vắng mặt không lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo phát biểu về việc tuân theo tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Về việc tuân theo tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, đương sự thực hiện đúng trình tự, quy định của pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng, buộc ông H1, bà D phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ gốc và lãi phát sinh từ hợp đồng tín dụng hai bên đã ký kết, nợ gốc và lãi tính đến ngày 18/3/2025 là 1.328.254.667 đồng (Một tỷ, ba trăm hai mươi tám triệu, hai trăm năm mươi bốn nghìn, sáu trăm sáu mươi bảy đồng). Kể từ ngày 19/3/2025 nếu bên có nghĩa vụ chưa thanh toán thì tiếp tục chịu các khoản lãi và phí phát sinh từ hợp đồng tín dụng. Trường hợp ông H1, bà D không thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản”. Tại mục 9 của Hợp đồng tín dụng hai bên đã ký kết có nội dung thỏa thuận Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp là Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. Tuy nhiên, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành không phải là Tòa án nơi nguyên đơn có trụ sở. Mặt khác, bị đơn bà Nguyễn Thị Lan D và ông Phan Thanh H1 có nơi cư trú tại ấp B, xã S, huyện C, tỉnh Tiền Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét việc trình bày bổ sung tại phiên tòa của nguyên đơn: Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày thêm nội dung thông tin của hợp đồng tín dụng ngày 24/5/2022, đồng thời xác định trong số tiền Ngân hàng yêu cầu bà D, ông H1 thanh toán có bao gồm số tiền 7.546.247 đồng là tiền lãi của hợp đồng tín dụng này. Hội đồng xét xử xét thấy trong các thông báo nợ quá hạn khi chưa khởi kiện và trong nội dung khởi kiện của Ngân hàng đối với bà D, ông H1 đã bao gồm khoản tiền lãi phát sinh của hợp đồng tín dụng năm 2022, việc Ngân hàng trình bày bổ sung nhằm làm rõ nội dung yêu cầu khởi kiện, không xem là bổ sung yêu cầu khởi kiện theo quy định tại Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Xét việc vắng mặt đương sự tại phiên tòa: Bị đơn ông Phan Thanh H1 mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông H1.
[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[4.1] Về yêu cầu thanh toán nợ gốc và các khoản lãi, phí phát sinh từ hợp đồng tín dụng: Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Lan D và ông Phan Thanh H1 phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số nợ của Hợp đồng cấp hạn mức thấu chi số 01/2022/11284491/HĐTD ngày 24/5/2022 và Hợp đồng cấp hạn mức thấu chi số 01/2023/11284491/HĐTD ngày 02/6/2023, trong đó nợ gốc là 999.950.000 đồng và nợ lãi tạm tính đến ngày 18/3/2025 là 328.304.667 đồng. Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, Ngân hàng đã giao nộp bản sao hợp đồng tín dụng nêu trên, giấy đề nghị vay vốn, hợp đồng thế chấp tài sản, các thông báo xử lý nợ quá hạn, phiếu tính lãi, sổ phụ tài khoản. Các tài liệu này cho thấy bà D, ông H1 đã ký kết Hợp đồng cấp hạn mức thấu chi số 01/2022/11284491/HĐTD ngày 24/5/2022 và Hợp đồng cấp hạn mức thấu chi số 01/2023/11284491/HĐTD ngày 02/6/2023 với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ, Chi nhánh M, Phòng G. Nội dung thỏa thuận trong hợp đồng trùng khớp với lời trình bày của Ngân hàng, đồng thời Ngân hàng đã tiến hành giải ngân đầy đủ cho bà D, ông H1 số tiền vốn vay được thể hiện qua lịch sử giao dịch từ tài khoản của bà D, ông H1. Tuy nhiên, sau khi giải ngân, trong quá trình sử dụng vốn vay, bà D, ông H1 đã không thực hiện trả gốc, trả lãi đúng quy định nên các khoản vay đã chuyển sang nợ quá hạn kể từ ngày 27/7/2023, riêng hợp đồng năm 2022 đã thanh toán hết nợ gốc, chỉ còn phát sinh dư nợ lãi.
Bị đơn bà D thì thống nhất với lời trình bày của Ngân hàng xác định số nợ gốc và nợ lãi đối với Ngân hàng. Riêng đối với hợp đồng năm 2022, bà D xác nhận còn nợ lại Ngân hàng một số tiền là phí bảo hiểm khoản vay khoản 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), không phải nợ lãi. Tuy nhiên, bà D không có tài liệu, chứng cứ liên quan đến lời trình bày này. Ngoài ra, bà D xin Ngân hàng giảm lãi nhưng không được đại diện Ngân hàng đồng ý.
Trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù ông H1 đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông H1 vẫn cố tình vắng mặt không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp. Căn cứ vào khoản 2 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự thì đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh sự phản đối đó. Nếu ông H1 không thừa nhận số nợ trên thì phải có nghĩa vụ chứng minh. Tuy nhiên, trong suốt quá trình tố tụng, ông vẫn cố tình vắng mặt không có lý do chính đáng, không thể hiện ý chí phản đối chứng cứ và tài liệu mà Ngân hàng cung cấp thì phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Do đó, Hội đồng xét xử xác định hợp đồng tín dụng giữa các bên là có thật, bà D, ông H1 có nghĩa vụ thanh toán số tiền còn nợ cho Ngân hàng từ hợp đồng tín dụng, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng là có cơ sở phù hợp với khoản 2 Điều 91, Điều 94, Điều 95, điểm a khoản 3 Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2017; Điều 7, Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
[4.2] Về yêu cầu xử lý tài sản thế chấp: Để đảm bảo cho Hợp đồng tín dụng nêu trên bà D, ông H1 đã thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất của ông bà là quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 230, tờ bản đồ số 27, diện tích 555m², đất ở nông thôn (200m²) và đất trồng cây lâu năm (355m²), đất tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS27181 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 17/01/2018 cho bà Nguyễn Thị Lan D và ông Phan Thanh H1. Hợp đồng thế chấp đã được công chứng và đăng ký tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C theo quy định tại khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013. Do đó, việc Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ trong trường hợp bà D, ông H1 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn là phù hợp với thỏa thuận giữa hai bên tại Điều 10 của hợp đồng thế chấp bất động sản mà các bên đã ký kết và phù hợp với quy định tại Điều 299, Điều 323, khoản 1 Điều 325 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Việc xem xét, thẩm định tại chỗ đối với các thửa đất, đối tượng của hợp đồng thế chấp tài sản là cần thiết cho việc giải quyết vụ án. Ngân hàng đã nộp toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng). Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng về việc xử lý tài sản chấp được Hội đồng xét xử chấp nhận nên việc Ngân hàng yêu cầu bà D, ông H1 thanh toán lại toàn bộ chi phí này là có cơ sở và phù hợp với quy định tại Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[6] Về thời hạn thực hiện nghĩa vụ: Bà D xin được kéo dài thời gian thanh toán nợ sau 03 tháng kể từ ngày xét xử sơ thẩm nhưng không được Ngân hàng đồng ý. Xét việc xác định thời hạn thực hiện nghĩa vụ do các bên tự thỏa thuận theo quy định tại Điều 278 Bộ luật Dân sự năm 2015, bên có nghĩa vụ chậm thanh toán là ảnh hưởng đến quyền lợi của bên có quyền. Do đó, yêu cầu kéo dài thực hiện nghĩa vụ của bị đơn bà D không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Về án phí: Do toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận nên bà D, ông H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Số tiền bà D, ông H1 có nghĩa vụ thanh toán: 1.328.254.667 đồng.
Án phí bà D, ông H1 phải nộp được xác định: 36.0000.000 đồng + 3% (528.254.667 đồng) = 51.847.640 đồng (Năm mươi mốt triệu, tám trăm bốn mươi bảy nghìn, sáu trăm bốn mươi đồng).
[8] Xét ý kiến và đề nghị của Viện Kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điều điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, b khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 157, khoản 3 Điều 228, Điều 235, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 91, Điều 94, Điều 95, điểm a khoản 3 Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2017; Điều 299, Điều 323, Điều 325 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 7, Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ.
1.1. Buộc bà Nguyễn Thị Lan D và ông Phan Thanh H1 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ số tiền nợ gốc là 999.950.000 đồng (Chín trăm chín mươi chín triệu, chín trăm năm mươi nghìn đồng) và tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng cấp hạn mức thấu chi số 01/2022/11284491/HĐTD ngày 24/5/2022 và Hợp đồng cấp hạn mức thấu chi số 01/2023/11284491/HĐTD ngày 02/6/2023 (lãi tạm tính đến ngày 18/3/2025 là 328.304.667 đồng (Ba trăm hai mươi tám triệu, ba trăm lẻ bốn nghìn, sáu trăm sáu mươi bảy đồng).
Kể từ ngày 19/3/2025, bà D, ông H1 còn phải tiếp tục chịu các khoản tiền lãi và chi phí phát sinh mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cấp hạn mức thấu chi số 01/2022/11284491/HĐTD ngày 24/5/2022 và Hợp đồng cấp hạn mức thấu chi số 01/2023/11284491/HĐTD ngày 02/6/2023 cho đến khi thanh toán hoàn tất.
1.2. Trường hợp bà D, ông H1 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ khi đến hạn thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với: Thửa đất 230, tờ bản đồ số 27, diện tích 555m², đất ở nông thôn (200m²) và đất trồng cây lâu năm (355m²), đất tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS27181 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 17/01/2018 cho bà Nguyễn Thị Lan D và ông Phan Thanh H1.
2. Về chi phí tố tụng: Buộc bà D, ông H1 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Đ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên có nghĩa vụ chậm thực hiện thì phải chịu lãi suất phát sinh do chậm trả tiền, mức lãi suất được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
3. Án phí:
Bà Nguyễn Thị Lan D và ông Phan Thanh H1 phải nộp 51.847.640 đồng (Năm mươi mốt triệu, tám trăm bốn mươi bảy nghìn, sáu trăm bốn mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
H2 lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 24.238.000 đồng (Hai mươi bốn triệu, hai trăm ba mươi tám nghìn đồng) theo biên lai thu số 0008104 ngày 18/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.
4. Các đương sự có quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thơm |
Bản án số 113/2025/DS-ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản
- Số bản án: 113/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP Đ yêu cầu bà Nguyễn Thị Lan D và ông Phan Thanh H1 trả nợ theo hợp đồng tín dụng
