|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 113/2025/DS-PT Ngày 28-02-2025 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tấn.
Các thẩm phán:
Bà Nguyễn Thị Huyền;
Ông Huỳnh Văn Luật.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Cường - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà:
Ông Trần Đức Thoại - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 25 và 28 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 545/2024/TLPT-DS ngày 06 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 95/2024/DS-ST ngày 27 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 566/2024/QĐXXPT-DS ngày 18 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2025/QĐ-PT ngày 02 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hoàng Đ, sinh năm 1990; địa chỉ: C C khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lê Hữu T, sinh năm 1983; địa chỉ: số D khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 06/3/2024); có mặt.
- Bị đơn:
- Ông Phan Trọng N, sinh năm 1985; địa chỉ: số B khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có mặt.
- Bà Ngô Thụy Phương D, sinh năm 1989; địa chỉ: số F, khu phố P, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng Đặng .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 06 tháng 3 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ông Nguyễn Hoàng Đ, ông Phan Trọng N, bà Ngô Thụy Phương D là chỗ quen biết nên ông Đ có cho ông N, bà D vay số tiền 950.000.000 đồng để phục vụ mục đích kinh doanh. Lãi suất thỏa thuận là 1,6%/tháng nhưng không ghi nhận tại hợp đồng, cụ thể các lần vay như sau:
Ngày 09/02/2021, ông Đ cho ông N bà D vay số tiền 700.000.000 đồng, thời gian vay 06 tháng từ ngày 09/02/2021 đến ngày 09/8/2021, lãi suất 1,6%/tháng.
Ngày 25/02/2021 ông Đ cho ông N, bà D vay số tiền 200.000.000 đồng, thời gian vay 06 tháng từ ngày 25/02/2021 đến ngày 25/8/2021, lãi suất 1,5%/tháng.
Ngày 29/9/2023 ông Đ cho ông N, bà D vay với số tiền 50.000.000 đồng, thời gian vay là 03 ngày từ ngày 29/9/2023 đến ngày 02/10/2023, lãi suất 1,5%/tháng.
Khi vay tiền ông N, bà D có thế chấp quyền sử dụng đất thuộc thửa số 785, tờ bản đồ số 15, tọa lạc tại phường H, thị xã B, tỉnh Bình Dương. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CU 951683, số vào sổ CS 12563 do Sở T1 cấp ngày 12/3/2020 cho bà Ngô Thụy Phương D và quyền sử dụng đất thuộc thửa số 200, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại phường P, thành phố T. Theo giấy chứng nhận quyền quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY 351232, số vào sổ CS 57190 do Sở T1 cấp ngày 30/12/2020 cho bà Ngô Thụy Phương D.
Quá trình vay, ông N, bà D chưa thanh toán tiền gốc và lãi cho ông Đ. Nay ông Đ yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Phan Trọng N và bà Ngô Thụy Phương D liên đới trả số tiền là 1.434.000.000 đồng (một tỷ bốn trăm ba mươi bốn triệu đồng). Trong đó tiền gốc là 950.000.000 đồng và tiền lãi là 484.000.000 đồng; cụ thể tiền lãi của từng khoản vay như sau:
Lãi chậm trả số tiền vay 700.000.000 đồng được tính từ ngày 09/8/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm tạm tính 35 tháng x 1,6%/tháng x 700.000.000 đồng = 392.000.000 đồng;
Lãi chậm trả số tiền vay 200.000.000 đồng được tính từ ngày 25/8/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm tạm tính 25 tháng x 1,6%/tháng x 200.000.000 đồng = 80.000.000 đồng;
Lãi chậm trả số tiền vay 50.000.000 đồng được tính từ ngày 02/10/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm tạm tính 15 tháng x 1,6%/tháng x 50.000.000 đồng = 12.000.000 đồng;
Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể:
Về tiền lãi: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn ông Phan Trọng N, bà Ngô Thụy Phương D có trách nhiệm liên đới trả số tiền lãi 275.000.000 đồng, giảm 209.000.000 đồng so với đơn khởi kiện. Trong đó, tiền lãi 275.000.000 đồng là khoản lãi cho số tiền vay 700.000.000 đồng, cho khoảng thời gian vay từ ngày 09/02/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm 21/8/2024. Tuy nhiên, không xác định mức lãi suất là bao nhiêu, chỉ tính chung do trong quá trình hòa giải bị đơn ông N đồng ý.
Đối với phần tiền lãi của khoản vay 200.000.000 đồng, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn tính như sau: Thời gian từ ngày 25/8/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm 21/8/2024 là 36 tháng 26 ngày (làm tròn 35 tháng) x 1,6%/tháng x 200.000.000 đồng = 112.000.000 đồng.
Đối với phần tiền lãi của khoản vay 50.000.000 đồng, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn yêu cầu như sau: Thời gian từ ngày 02/10/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm 21/8/2024 10 tháng 19 ngày (làm tròn 10 tháng) x 1,6%/tháng x 50.000.000 đồng = 8.000.000 đồng. Tổng cộng khoản lãi vay của 250.000.000 đồng là 120.000.000 đồng. Tuy nhiên, phần lãi này người đại diện hợp pháp của nguyên đơn không yêu cầu vì cho rằng đã được ông N chuyển khoản trả cho ông Đặng X.
Về tiền gốc đại diện nguyên giữ nguyên yêu cầu bị đơn ông Phan Trọng N, bà Ngô Thụy Phương D có trách nhiệm liên đới trả số tiền 950.000.000 đồng. Tổng cộng gốc và lãi là 1.225.000.000 đồng.
* Quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn ông Phan Trọng N trình bày:
Do là chỗ quen biết nên vào khoảng tháng 02/2021 ông N có vay ông Nguyễn Hoàng Đ số tiền 900.000.000 đồng (chín trăm triệu đồng), lãi suất là 2,5%/tháng. Sau đó, do cần tiền lo việc làm ăn nên ông N có vay thêm của ông Nguyễn Hoàng Đ số tiền là 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng). Tính đến nay thì ông N đã vay của ông Nguyễn Hoàng Đ tổng cộng số tiền là 950.000.000 đồng (chín trăm năm mươi triệu đồng). Trong số 950.000.000 đồng vay của ông Đ thì ông N và bà D cùng vay 700.000.000 đồng vào ngày 09/02/2021. Riêng 250.000.000 đồng vay vào ngày 25/02/2021 và ngày 29/9/2023 là do cá nhân ông N vay. Đối với số tiền 700.000.000 đồng bà D vay cùng ông N vào ngày 09/02/2021 thì sau đó đã được bà D gửi cho ông N để ông N trả cho ông Đ. Tuy nhiên, ông N chưa trả cho ông Đ nên ông N đồng ý còn nợ ông Đ toàn bộ số tiền gốc là 950.000.000 đồng không liên quan đến bà D.
Về việc trả lãi: Từ khi vay đến tháng 5/2022 ông N có trả 337.000.000 đồng tiền lãi cho ông Đ. Sau đó, do làm ăn thất bại, kinh tế khó khăn nên ông N không thể trả được tiền lãi cho ông Nguyễn Hoàng Đặng . Nay ông N có ý kiến như sau:
Ông N đồng ý trả cho ông Nguyễn Hoàng Đặng S gốc còn nợ là 950.000.000 đồng (chín trăm năm mươi triệu đồng).
Đối với số tiền lãi ông Đ yêu cầu tổng cộng là 484.000.000 đồng. Qua sao kê tài khoản chuyển trả lãi, ông N đã thanh toán tiền lãi cho ông Đ được 13 kỳ với
tổng số tiền lãi là 337.000.000 đồng. Do đó, ông N đề nghị được trừ tiền lãi này vào số tiền lãi ông Đ đã yêu cầu. Cụ thể: Ông N đồng ý thanh toán cho ông Nguyễn Hoàng Đ số tiền 1.225.000.000 đồng, trong đó tiền gốc là 950.000.000 đồng và tiền lãi là 275.000.000 đồng.
Về phương thức thanh toán: Ông N đề nghị được thanh toán làm 03 đợt: Đợt 1 ngày 15/9/2024 với số tiền là 400.000.000 đồng; đợt thứ 2 ngày 15/11/2024 với số tiền là 400.000.000 đồng và đợt thứ 3 ngày 31/12/2024 với số tiền là 425.000.000 đồng.
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Phan Trọng N thống nhất về số nợ gốc và đồng ý thanh toán nhưng đề nghị được chia thành nhiều đợt thanh toán. Đối với phần tiền lãi: Ông Phan Trọng N xác định số tiền lãi 337.000.000 đồng được ông N chuyển trả cho ông Đ thuộc phần lãi của khoản vay 700.000.000 đồng vào ngày 09/02/2021 và 200.000.000 đồng vào ngày 25/02/2021, số tiền lãi này là tính chung, không xác định mỗi phần là bao nhiêu. Riêng khoản vay 50.000.000 đồng ông N chưa thanh toán tiền lãi cho ông Đ. Đồng thời bị đơn đề nghị xem xét tính lại tổng mức lãi của 03 lần vay trừ đi phần lãi đã thanh toán. Số còn lại bao nhiêu bị đơn Phan Trọng N sẽ đồng ý thanh toán toàn bộ.
* Quá trình tố tụng bị đơn bà Ngô Thụy Phương D trình bày:
Bà D và ông Phan Trọng Nghĩa L bạn bè và có quan hệ quen biết với ông Nguyễn Hoàng Đ nên ngày 09/02/2021 bà D và ông N có cùng vay số tiền là 700.000.000 đồng (bảy trăm triệu đồng) của ông Đ. Khi vay bà D, có thế chấp quyền sử dụng đất thuộc thửa số 785, tờ bản đồ số 15, tọa lạc tại phường H, thị xã B. Theo Giấy chứng nhận quyền quyền sử dụng đất số CU 951683, số vào sổ CS 12563 do Sở T1 cấp ngày 12/3/2020 cho bà Ngô Thụy Phương D và quyền sử dụng đất thuộc thửa số 200, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại phường P, thành phố T. Theo Giấy chứng nhận quyền quyền sử dụng đất số CY 351232, số vào sổ CS 57190 do Sở T1 cấp ngày 30/12/2020 cho bà Ngô Thụy Phương D. Tuy nhiên, sau thời gian vay bà D có đưa lại số tiền đã vay của ông Đ cho ông Phan Trọng N để ông N thanh toán cho ông Đ để nhận lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên về cho bà D. Việc ông Phan Trọng N có trả tiền cho ông Nguyễn Hoàng Đ hay không thì bà D không rõ. Bà D xác định chỉ có cùng ông N vay số tiền 700.000.000 đồng vào ngày 09/02/2021. Riêng số tiền ông N vay thêm 200.000.000 đồng và 50.000.000 đồng của ông Đ thì bà D không biết. Hiện nay, bà D xác định số nợ nêu trên của ông Phan Trọng N và ông Nguyễn Hoàng Đ, bà D không còn liên quan. Bà D yêu cầu ông Nguyễn Hoàng Đ có trách nhiệm trả lại cho bà D 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà.
* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 95/2024/DS-ST ngày 27 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã quyết định:
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về số tiền lãi 209.000.000 đồng.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng Đ về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản với bị đơn ông Phan Trọng N và bà Ngô Thị Phương D1.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng Đ về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản đối với bị đơn ông Phan Trọng N.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn bà Ngô Thụy Phương D cùng liên đới trả số tiền 250.000.000 đồng (hai trăm năm mươi triệu đồng).
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn ông Phan Trọng N, bà Ngô Thụy Phương D về số tiền lãi 275.000.000 đồng (hai trăm bảy mươi lăm triệu đồng).
- Buộc ông Nguyễn Hoàng Đ có trách nhiệm trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thuộc thửa số 785, tờ bản đồ số 15, tọa lạc tại phường H, thị xã B. Theo giấy chứng nhận quyền quyền sử dụng đất số CU 951683, số vào sổ CS 12563 do Sở T1 cấp ngày 12/3/2020 cho bà Ngô Thụy Phương D và quyền sử dụng đất thuộc thửa số 200, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại phường P, thành phố T. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY 351232, số vào sổ CS 57190 do Sở T1 cấp ngày 30/12/2020 cho bà Ngô Thụy Phương D.
Buộc ông Phan Trọng N, bà Ngô Thụy Phương D có trách nhiệm liên đới trả cho ông Nguyễn Hoàng Đ số tiền gốc là 700.000.000 đồng (bảy trăm triệu đồng).
Buộc ông Phan Trọng N có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Hoàng Đ số tiền gốc là 250.000.000 đồng (hai trăm năm mươi triệu đồng).
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 28/8/2024, ông Nguyễn Hoàng Đ kháng cáo bản án sơ thẩm không đồng ý việc Tòa án buộc ông N và bà D có nghĩa vụ liên đới thanh toán 700.000.000 đồng nợ gốc và buộc ông N thanh toán riêng khoảng nợ gốc 250.000.000 đồng. Đồng thời không đồng ý cách tính lãi suất cơ bản của ngân hàng và việc giao trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cầm cố cho bà D.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn thay đổi một phần yêu cầu kháng cáo về chủ thể phải có nghĩa vụ thanh toán và không đề cập đến kháng cáo yêu cầu việc giao trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Ngô Thụy Phương D. Đối với mức lãi suất thì yêu cầu tính lãi suất là 1,6%/tháng tính từ thời điểm khi vay các khoản nợ cho đến ngày xét xử phúc thẩm trừ vào số tiền lãi đã thanh toán trước 337.000.000 đồng.
Bị đơn ông N xác định: Khi vay các bên có thỏa thuận mức lãi suất là 2,5%/tháng nhưng chỉ đồng ý như bản án sơ thẩm đã tuyên, không đồng ý trả thêm tiền lãi.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu quan điểm: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa phúc thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Về phần thủ tục Kiểm sát viên không có kiến nghị khắc phục gì thêm.
Đối với quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn về mức lãi suất yêu cầu là 1,6%/tháng tính từ thời điểm khi vay các khoản nợ cho đến ngày xét xử sơ thẩm vì bị đơn thừa nhận có thỏa thuận mức lãi suất vay là 2,5%/tháng.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Hoàng Đặng L1 và nộp trong hạn là phù hợp nên được chấp nhận.
[1.2] Về việc vắng mặt của đương sự: Bị đơn bà Ngô Thụy Phương D có đơn xin giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn bà D.
[2] Về nội dung:
Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng Đ do ông Lê Hữu T trình bày tại phiên tòa phúc thẩm thấy rằng:
[2.1] Về chủ thể nguyên đơn yêu cầu thanh toán: Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn thay đổi một phần yêu cầu kháng cáo nên xác định nghĩa vụ thanh toán nợ của ông N, bà D liên đới thanh toán đối với số tiền nợ 700.000.000 đồng và nghĩa vụ riêng của ông N thanh toán số tiền nợ 250.000.000 đồng là phù hợp quy định của pháp luật.
[2.2] Về số tiền lãi: Ông N xác định lãi suất thanh toán cho khoản vay 900.000.000 đồng, không phải trả lãi cho khoản vay 50.000.000 đồng vì số tiền vay 50.000.000 đồng được ông N vay sau khi ông ngưng việc trả lãi từ tháng 5/2022. Do đó, có căn cứ số tiền lãi ông N trả cho ông Đ là của khoản vay 900.000.000 đồng. Tuy nhiên, do khác về chủ thể vay nên cần xem xét nghĩa vụ trả lãi của các chủ thể đối với từng khoản vay. Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn đồng ý khấu trừ khoản tiền lãi đã nhận 337.000.000 đồng do bị đơn đã thanh toán được xem xét tính tỷ lệ như sau: 337.000.000 đồng/900.000.000 đồng, tương đương khoản vay 700.000.000 đồng đã được thanh toán tiền lãi là 262.111.111 đồng và số tiền 200.000.000 đồng tương đương số tiền lãi đã thanh toán là 74.888.889 đồng.
[2.3] Về lãi suất:
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn và bị đơn không thống nhất về việc thỏa thuận lãi suất. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn và bị đơn đều thống nhất trình bày tại thời điểm vay tiền nguyên đơn và bị đơn thỏa thuận mức lãi suất là 2,5%/tháng. Đây là sự thừa nhận của các đương sự nên căn cứ vào Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự đây là tình tiết sự kiện không cần phải chứng minh nên việc Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng mức lãi suất theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự là không phù hợp.
Mặt khác, tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn yêu cầu Hội đồng xét xử áp dụng mức lãi suất 1,6%/tháng đối với số tiền vay của các bị đơn. Xét thấy đây sự tự nguyện của nguyên đơn và cũng không gây bất lợi cho bị đơn nên có căn cứ để Hội đồng xét xử áp dụng mức lãi suất 1,6%/tháng đối với số tiền vay của bị đơn.
Đối với yêu cầu của người đại diện hợp pháp của nguyên đơn về thời hạn tính lãi suất tính đến thời điểm xét xử phúc thẩm là không phù hợp nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
[2.3.1] Đối với tiền lãi của số tiền vay 700.000.000 đồng, mức lãi suất được tính như sau:
Từ ngày 09/02/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 21/8/2024 là 42 tháng 12 ngày x 700.000.000 đồng x 1,6%/tháng = 477.880.000 đồng. Như đã xác định phần lãi suất được thanh toán cho số tiền 700.000.000 đồng tại mục [2.2] thì phần lãi của số tiền 700.000.000 đồng đã được ông N thanh toán cho ông Đ là 262.111.111 đồng. Số tiền lãi của số tiền vay 700.000.000 đồng mà các bị đơn còn phải trả là: 477.880.000 đồng – 262.111.111 đồng = 215.768.889 đồng.
[2.3.2] Đối với số tiền vay 200.000.000 đồng, mức lãi suất được tính như sau:
Từ ngày 25/02/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 21/8/2024 là 41 tháng 26 ngày x 200.000.000 đồng x 1,6%/tháng = 133.973.333 đồng. Như đã xác định phần lãi suất được thanh toán cho số tiền 200.000.000 đồng tại mục [2.2] thì phần lãi của số tiền 200.000.000 đồng đã được ông N thanh toán cho ông Đ là 74.888.889 đồng. Số tiền lãi của số tiền vay 200.000.000 đồng mà bị đơn ông N còn phải trả là: 133.973.333 đồng – 74.888.889 đồng = 59.084.444 đồng.
[2.3.3] Đối với số tiền vay 50.000.000 đồng, mức lãi suất được tính như sau:
Từ ngày 02/10/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 21/8/2024 là 10 tháng 19 ngày x 50.000.000 đồng x 1,6%/tháng = 8.506.666 đồng.
Như vậy, số tiền lãi của khoản vay 700.000.000 đồng sau khi đã khấu trừ là 215.768.889 đồng. Số tiền lãi của khoản vay 250.000.000 đồng là 59.084.444 đồng + 8.506.666 đồng = 67.591.110 đồng.
[2.3.4] Các phần khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên phát sinh hiệu lực.
[3] Từ những nhận định trên, xét thấy có căn cứ để chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.
[4] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về việc giải quyết vụ án là phù hợp.
[5] Án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo không phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 2 Điều 148, khoản 2 Điều 308, Điều 309 và Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng Đặng .
Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 95/2024/DS-ST ngày 27 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương như sau:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng Đ về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” với bị đơn ông Phan Trọng N và bà Ngô Thụy Phương D.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng Đ về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với bị đơn ông Phan Trọng N.
Buộc ông Phan Trọng N và bà Ngô Thụy Phương D có trách nhiệm liên đới trả cho ông Nguyễn Hoàng Đ số tiền 915.768.889 đồng (chín trăm mười lăm triệu bảy trăm sáu mươi tám nghìn tám trăm tám mươi chín đồng). Trong đó nợ gốc là 700.000.000 đồng + tiền lãi 215.768.889 đồng.
Buộc ông Phan Trọng N có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Hoàng Đ số tiền 317.591.110 đồng (ba trăm mười bảy triệu năm trăm chín mươi mốt nghìn một trăm mười đồng). Trong đó nợ gốc là 250.000.000 đồng + tiền lãi là 67.591.110 đồng.
Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, nếu người phải thi hành án chậm thi hành thì còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
- Không chấp nhận phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Hoàng Đ về việc buộc bị đơn bà Ngô Thụy Phương D cùng liên đới trả số tiền 250.000.000 đồng (hai trăm năm mươi triệu đồng).
- Nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng Đ có trách nhiệm trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CU 951683, số vào sổ CS 12563 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T1 cấp ngày 12/3/2020 cho bà Ngô Thụy Phương D đối với thửa đất số 785, tờ bản đồ số 15, tọa lạc tại phường H, thị xã B, tỉnh Bình Dương và bản chính Giấy chứng nhận quyền quyền sử dụng đất số CY 351232, số vào sổ CS 57190 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T1 cấp ngày 30/12/2020 cho bà Ngô Thụy Phương D đối với thửa đất số 200, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Phan Trọng N, bà Ngô Thụy Phương D phải có trách nhiệm liên đới chịu số tiền 42.788.444 đồng (bốn mươi hai triệu bảy trăm tám mươi tám nghìn bốn trăn bốn mươi bốn đồng).
- Ông Phan Trọng N phải chịu số tiền 18.919.555 đồng (mười tám triệu chín trăm mười chín nghìn năm trăm năm mươi lăm đồng).
Hoàn trả cho ông Nguyễn Hoàng Đ số tiền 27.510.000 đồng (hai mươi bảy triệu năm trăm mười nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0004775 ngày 23/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
2. Án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng Đ không phải nộp. Hoàn trả cho ông Nguyễn Hoàng Đ số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số: 0002874 ngày 03/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Tấn |
Bản án số 113/2025/DS-PT ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 113/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sửa bản án sơ thẩm
