Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TIỀN HẢI

TỈNH THÁI BÌNH

Bản án số:113/2024/HS-ST

Ngày 27 - 11 - 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:Bà Nguyễn Thị Nhi

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Tô Thị Hương
  2. Bà Vũ Thị Hiền

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Trung Hiếu - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 102/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Bùi Thị N, sinh năm 1982
  2. Nơi cư trú: Thôn L, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn M (đã chết) và bà Đoàn Thị N1; chồng: Mai Văn T; con: Có 03 con, con lớn sinh năm 2000, con nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền sự: Không; tiền án: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. “Có mặt tại phiên tòa”.

  3. Phạm Văn T1, sinh năm 1984.
  4. Nơi cư trú: Thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T2 và bà Nguyễn Thị L; Vợ: Phạm Thị T3; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2016; tiền sự: Không; tiền án: Không.

    Nhân thân: Năm 2003 tham gia nghĩa vụ quân sự đến năm 2005 được xuất ngũ. Năm 2006 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai xử phạt 03 tháng 03 ngày tù (trả tự do tại phiên tòa) về tội Trộm cắp tài sản theo bản án số 16/2006/HSST ngày 07/3/2006. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. “Có mặt tại phiên tòa”.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Đặng Thị Hồng S, sinh năm 1975 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn L, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình

- Người làm chứng: Anh Phạm Văn T4, sinh năm 1981 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn L, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Dựa vào kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng hàng ngày, khoảng tháng 5/2024, Bùi Thị N, sinh năm 1982, trú tại thôn L, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình và 01 người phụ nữ không biết tên tuổi, địa chỉ (đến quán tạp hóa của N tiếp thị nước giải khát) có zalo “Heo đất” thỏa thuận với nhau lập bảng lô, đề trái phép, N trực tiếp mở bàn bán số lô, đề cho người chơi tại quán tạp hóa của N ở thôn L, xã N, huyện T, sau đó, N sẽ thống kê các số lô, đề bán được vào một tờ giấy A4 màu trằng (gọi là bảng số lô, đề) rồi sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J3 Pro, lắp sim số thuê bao 0339503185 chụp ảnh gửi qua tài khoản trên ứng dụng Zalo cho người phụ nữ có zalo “Heo đất”, để hưởng tiền hoa hồng (Tài khoản Zalo của N tên hiển thị là “Hồng Nhung” được tạo lập từ số điện thoại 0339.503.xxx, quy định mức cá cược như sau: Nhung bán 2 loại số đề gồm: “Loại 2 số” (2 càng) và “Loại 3 số” (3 càng), người chơi chọn mua một hoặc nhiều con số bất kỳ từ 00 đến 99 đối với loại 2 số và từ 000 đến 999 đối với “loại 3 số”, giá trị đặt cược tùy người chơi. Sau khi kết quả xổ số kiến thiết mở thưởng cùng ngày thì so sánh số đề 2 càng, 3 càng đã mua với 2 hoặc 3 số cuối của “Giải đặc biệt” nếu trùng thì người chơi “trúng đề”. Trường hợp này người chơi sẽ được trả gấp 80 lần số tiền đã mua số đề loại 2 số, được trả gấp 400 lần số tiền đã mua số đề loại 3 số.

Nhung bán 3 loại số lô: “Lô thường”, “Lô xiên 2” và “Lô xiên 3”: Người chơi sẽ chọn số lô ngẫu nhiên từ 00 đến 99 rồi đặt cược tiền, với lô thường thì người chơi chọn 1 số và đặt cược số điểm tùy người chơi, 1 điểm lô sẽ được tính với giá 22.500 đồng đến 23.000 đồng. Với lô xiên 2 người chơi phải chọn cặp 2 số; lô xiên 3 người chơi phải chọn cặp 3 số và đặt cược số tiền mua tùy người chơi. Sau đó khi kết quả xổ số kiến thiết mở thưởng cùng ngày thì so sánh số lô đã mua nếu trùng với 2 số cuối của các giải xổ số miền bắc thì trúng thưởng 1 điểm lô thường sẽ được trả 80.000đồng, số lô thường về nhiều lần trong các giải thì sẽ được nhân lên tương ứng (1 lần hay gọi là 1 nháy; 2 lần là 2 nháy....). Lô xiên 2, lô xiên 3 nếu trúng thưởng sẽ được trả tương ứng gấp 10, 45 lần số tiền đã đặt cược. Nhung với người phụ nữ có zalo “Heo đất” quy định với nhau về việc chuyển bảng lô đề: Số tiền N bán được các số đề chuyển lại cho người phụ nữ này thì người phụ nữ này tính 73% trên tổng số tiền bán được còn N hưởng lợi 27% trong tổng số tiền này; 1 điểm lô người phụ nữ này tính giá 21.900 đồng, N được hưởng lợi 1 điểm lô từ 600 đồng đến 1.100 đồng. Bằng hình thức trên, ngày 07/6/2024 N đã bán số lô, đề trái phép những cho một số người chơi cụ thể:

Khoảng 18 giờ ngày 07/6/2024 Phạm Văn T1, sinh năm 1984, nơi cư trú thôn T, N, T, Thái Bình gọi điện thoại cho N mua số lô 93, 97 mỗi con 50 điểm tổng bảng 100 điểm x 22.500 đồng/1điểm bằng 2.250.000 đồng nhưng T1 chưa đưa tiền cho N. Dựa vào Kết quả xổ số miền bắc mở thưởng trong ngày T1 trúng 50 điểm lô 93 được 4.000.000 đồng. N chưa thanh toán tiền cho T1. Tổng số tiền đánh bạc giữa N và T1 ngày là 6.250.000 đồng

Khoảng 16 giờ 52 phút ngày 07/6/2024 Đặng Thị Hồng S, sinh năm 1975, nơi cư trú thôn L, N, T, Thái Bình gọi điện cho N mua 08 điểm lô x 23.000 đồng bằng 184.000 đồng gồm số lô 11 là 04 điểm; số lô 33 – 88 mỗi con 02 điểm. Son mua số đề, ba càng là 919.000 đồng nhưng S chưa đưa tiền cho N.Dựa vào kết quả xổ số miền bắc mở thưởng trong ngày S trúng 06 điểm lô (lô 11: 4 điểm; 33: 02 điểm) được 480.000 đồng. N chưa thanh toán tiền cho S. Tổng số tiền đánh bạc giữa N và S là 1.583.000 đồng

Khoảng 17 giờ 45 phút Phan Văn T5, sinh năm 1981, Nơi cư trú thôn L, N, Tiền H gọi điện thoại cho N mua số lô 12 là 05 điểm x 23.000 đồng bằng 115.000 đồng và T5 đã đưa tiền cho N. Theo Kết quả xổ số miền bắc mở thưởng trong ngày Thủ trúng 05 điểm lô 12 được 400.000 đồng. N chưa thanh toán tiền cho T5. Tổng số tiền đánh bạc giữa N và T5 là 515.000 đồng

Ngoài 03 người trên, ngày 07/6/2024, N còn bán các số đề, ba càng, lô xiên cho một số người nữa nhưng không biết tên tuổi, địa chỉ được tổng 394 điểm lô với giá 9.062.000 và 745.000 đồng tiền số đề, ba càng, lô xiên với tổng số tiền là đánh bạc là 9.807.000 đồng. Theo kết quả xổ số miền bắc mở thưởng trong ngày thì những người khách vãng lai trúng thưởng 144 điểm lô bằng 11.520.000 đồng và 22.000 đồng tiền đề bằng 1.540.000 đồng. N chưa thanh toán tiền trúng thưởng cho ai. Tổng số tiền đánh bạc giữa N và những người khách vãng lai này là 22.867.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc của N và những người ghi số lô, số đề là 31.215.000 đồng, N chuyển bảng cho người có tên zalo “Heo đất” và chưa thanh toán tiền cho ai.

Vật chứng và tài sản thu giữ, quản lý gồm:

Cơ quan điều tra đã quản lý 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J3 Pro đã qua sử dụng của Bùi Thị N; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A02s màu xanh đã qua sử dụng của Phạm Văn T1; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo đã qua sử dụng của Đặng Thị Hồng S.

Tại bản Cáo trạng số 111/CT-VKSTH ngày 18/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình đã truy tố Bùi Thị N và Phạm Văn T1 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Bùi Thị N và Phạm Văn T1 phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự

- Về hình phạt:

Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 50, Điều 58; Điều 17 và Điều 65 BLHS. Đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo Bùi Thị N từ 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng đến 03 (Ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50, Điều 58; Điều 17 và Điều 65 BLHS. Đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo Phạm Văn T1 từ 09 (Chín) tháng tù đến 01 (Một) năm tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng đến 02 (Hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Hình phạt bổ sung: Phạt các bị cáo Bùi Thị N và Phạm Văn T1 mỗi bị cáo từ 10.000.000đồng đến 15.000.000đồng.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật Hình sự; điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J3 Pro đã qua sử dụng của Bùi Thị N; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A02s màu xanh đã qua sử dụng của Phạm Văn T1; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo đã qua sử dụng của Đặng Thị Hồng S.

Buộc bị cáo Bùi Thị N phải nộp lại số tiền 27.862.000đồng để sung quỹ nhà nước.

Buộc buộc bị cáo Phạm Văn T1 phải nộp lại số tiền 2.250.000đồng để sung quỹ nhà nước.

Buộc chị Đặng Thị Hồng S phải nộp lại số tiền 1.103.000đồng để sung quỹ nhà nước.

Và đề xuất các vấn đề khác liên quan đến việc giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa các bị cáo đều thừa nhận đã thực hiện hành vi như bản cáo trạng đã nêu, các bị cáo đều đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình đã truy tố và đều xin được giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội cải tạo, sớm trở thành người công dân có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Về căn cứ buộc tội: Tại phiên toà các bị cáo Bùi Thị N và Phạm Văn T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp nhau và là chứng cứ buộc tội lẫn nhau đồng thời phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra và giai đoạn truy tố và được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ cụ thể là:

  • Đơn tố giác của quần chúng nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình với nội dung: Tố giác Bùi Thị N, sinh năm 1982, trú tại thôn L, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình có biểu hiện hoạt động ghi lô đề trái phép, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, bức xúc trong quần chúng nhân dân.
  • Các biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu; biên bản kiểm tra điện thoại, biên bản niêm phong đồ vật tài liệu bị tạm giữ do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T lập ngày 07/6/2024; 08/6/2024 tại nhà Bùi Thị N và tại Công an huyện T.
  • Các Biên bản kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng hồi 18 giờ 15 phút ngày 07/6/2024 tại Công ty TNHH MTV X-53E phường H, quận H, thành phố Hà Nội.
  • Văn bản trả lời của Công ty cổ phần V1 ngày 08/7/2024.
  • Lời khai của người liên quan là chị Đặng Thị Hồng S, sinh năm 1975, nơi cư trú: thôn L, N, T, Thái Bình.
  • Lời khai của người làm chứng là anh Phan Văn T5, sinh năm 1981, nơi cư trú thôn L, N, T, Thái Bình;

[3] Từ những căn cứ nêu trên có đủ cơ sở để kết luận: Với mục đích đánh bạc để thu lợi dưới hình thức ghi (bán) “lô, đề” nên ngày 07/6/2024 Bùi Thị N đã ghi (bán) “số lô, số đề” cho những người chơi với tổng số tiền là 31.215.000 đồng. Trong đó Phạm Văn T1 đã mua “số lô” của N 2.250.000 đồng và trúng thưởng số tiền là 4.000.000 đồng, tổng số tiền N và T1 dùng để đánh bạc với nhau là 6.250.000đồng. Hành vi của các bị cáo Bùi Thị N và Phạm Văn T1 đã phạm vào tội: “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

* Điều 321 Tội Đánh bạc quy định:

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

  • Có tính chất chuyên nghiệp;
  • Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên;
  • Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;
  • Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

[4] Đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm, gây nguy hại cho xã hội, thể hiện sự liều lĩnh, coi thường pháp luật, không chỉ xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng là khách thể trực tiếp được luật Hình sự bảo vệ mà còn gây mất trật tự an ninh tại địa phương, là một tệ nạn xã hội thường dẫn đến các hậu quả nghiêm trọng khác như: Trộm cắp, cướp, cướp giật tài sản, cố ý gây thương tích..., nó không chỉ từng ngày, từng giờ làm thoái hóa, biến chất một bộ phận nhân dân mà nó còn len lỏi đến từng gia đình khiến cho nhiều người rơi vào tình cảnh kinh tế khó khăn, nợ nần chồng chất, tan vỡ hạnh phúc gia đình và hàng loạt các tệ nạn xã hội khác có thể phát sinh. Trong vụ án này các bị cáo đều là người trưởng thành, có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, đều hiểu được tác hại của việc đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề nhưng với cùng tâm lý hám lợi, muốn có tiền nhưng không bằng công sức lao động chính đáng của bản thân mình, các bị cáo đã không đắn đo suy nghĩ mà chơi đánh bạc với nhau dưới hình thức mua bán số lô, số đề. Vì vậy cần phải áp dụng mức hình phạt tương ứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo.

[5]. Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của các bị cáo thì thấy:

Các bị cáo Bùi Thị N và Phạm Văn T1 đều không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Các bị cáo đều không có tiền sự, tiền án, bị cáo N là người có nhân thân tốt, bị cáo T1, năm 2006 bị Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai xử phạt 03 tháng 03 ngày tù (trả tự do tại phiên tòa) về tội Trộm cắp tài sản.

Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo N phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo T1 có thời giant ham gia nghĩa vụ quân sự nên bị cáo N được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo T1 được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự

[6] Xét về vai trò của các bị cáo trong vụ án thì thấy: Các bị cáo đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô, số đề một cách độc lập. Tuy nhiên bị cáo N ngoài bán số lô, số đề cho bị cáo T1 còn bán số lô, số đề cho một số người khác nên số tiền bị cáo N dùng để đánh bạc (31.250.000đồng) nhiều hơn số tiền bị cáo T1 dùng để đánh bạc (6.250.000đồng) nên bị cáo N phải chịu hình phạt nặng hơn bị cáo T1.

[7] Từ những phân tích đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, vai trò của các bị cáo trọng vụ án cũng như nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy: Các bị cáo đều không có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, các bị cáo đều có khả năng cải tạo ngoài xã hội dưới sự quản lý, giám sát của cơ quan có thẩm quyền và việc để các bị cáo cải tạo ngoài xã hội cũng không ảnh hưởng xấu đến công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. Vì vậy Hội đồng xét xử cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, không cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, cần áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho các bị cáo được hưởng án treo để các bị cáo tự cải tạo ngoài xã hội, tạo điều kiện để các bị cáo sửa chữa sai lầm, trở thành người công dân có ích cho xã hội là phù hợp với quy định của pháp luật và phù hợp với chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước ta hiện nay.

[8]. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo N và T1 chơi đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề vì mục đích thu lợi bất chính nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo như đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp với quy định của pháp luật.

[9]. Vật chứng và tài sản thu giữ, quản lý, Hội đồng xét xử xét thấy:

Đối với : 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J3 Pro đã qua sử dụng của Bùi Thị N; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A02s màu xanh đã qua sử dụng của Phạm Văn T1; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo đã qua sử dụng của Đặng Thị Hồng S. Xác định đây là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước. Đối với tổng số tiền 31.215.000đồng dùng vào việc đánh bạc cần buộc bị cáo N phải nộp lại 27.862.000đồng, buộc bị cáo T1 phải nộp lại 2.250.000đồng và buộc chị Đặng Thị Hồng S phải nộp lại 1.103.000đồng để sung quỹ nhà nước là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

[10] Về các vấn đề khác của vụ án: Trong vụ án này có Phan Văn T5, Đặng Thị Hồng S đã có hành vi mua số lô, số đề của Bùi Thị N, tổng số tiền mua số lô đề đều dưới 5.000.000 đồng, tài liệu xác minh thể hiện Thủ và S không có tiền án, tiền sự về hành vi: Đánh bạc, G bạc hoặc Tổ chức đánh bạc nên Công an huyện T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Phan Văn T5 và Đặng Thị Hồng S là đúng quy định của pháp luật.

Đối với một số người khách vãng lai đến quán tạp hóa của N mua số lô, đề trái phép ngày 07/6/2024, bản thân N không biết những người này là ai, Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra xác minh nhưng không xác minh được nhân thân, lai lịch của những người này nên không có căn cứ xử lý.

Đối với người phụ nữ N khai chuyển bảng số lô, số đề ngày 07/06/2024 có tên tài khoản Z “Heo đất” Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Thái Bình đã Yêu cầu công ty V1 cung cấp dữ liệu điện từ lịch sử các địa chỉ IP, tên thiết bị điện tử mà các tài khoản Zalo “Heo đất” dùng để truy cập; số điện thoại đăng ký tài khoản Zalo “Heo đất”. Công ty V1 có công văn trả lời: với các thông tin Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã gửi đề nghị cung cấp, công ty V1 không thể xác định cung cấp các thông tin có liên quan như yêu cầu cung cấp. Bản thân N cũng không biết tên tuổi địa chỉ, số điện thoại của người phụ nữ này vì vậy không xác định được người phụ nữ có tên tài khoản Zalo “Heo đất” là ai nên không có căn cứ để xử lý theo quy định của pháp luật.

[11] Về án phí: Các bị cáo Bùi Thị N và Phạm Văn T1 phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Bùi Thị N và Phạm Văn T1 phạm tội: “Đánh bạc"
  2. Về hình phạt chính:

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 50, Điều 58; Điều 17 và Điều 65 BLHS. Xử phạt bị cáo Bùi Thị N 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm,

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50, Điều 58; Điều 17 và Điều 65 BLHS. Xử phạt bị cáo Phạm Văn T1 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo Bùi Thị N cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Giao các bị cáo Phạm Văn T1 cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  1. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Thị N 10.000.000đồng (Mười triệu đồng) để sung quỹ nhà nước, xử phạt bị cáo Phạm Văn T1 5.000.000đồng (Năm triệu đồng) để sung quỹ nhà nước.
  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J3 Pro đã qua sử dụng của Bùi Thị N; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A02s màu xanh đã qua sử dụng của Phạm Văn T1; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo đã qua sử dụng của Đặng Thị Hồng S.

- Buộc bị cáo Bùi Thị N phải nộp lại số tiền 27.862.000đồng, buộc bị cáo Phạm V phải nộp lại số tiền 2.250.000đồng và buộc chị Đặng Thị Hồng S phải nộp lại số tiền 1.103.000đồng để sung quỹ nhà nước

(Các vật chứng trên đã được Cơ quan điều tra Công an huyện T thu giữ, chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiền Hải quản lý theo biên bản giao nhận đã ký kết).

  1. Về án phí: Căn cứ vào các Điều 135; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Các bị cáo Bùi Thị N và Phạm Văn T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Bùi Thị N và Phạm Văn T1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Chị Đặng Thị Hồng S có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt theo quy định của pháp luật.

HỘI THẨM NHÂN DÂN

PHIÊN TÒA

N2

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA

Nguyễn Thị

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - VKSND huyện Tiền Hải;
  • - Công an huyện Tiền Hải;
  • - Bị cáo;
  • - Chi cục THADS huyện Tiền Hải;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thái Bình;
  • tỉnh Thái Bình.
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Nhi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 113/2024/HS-ST ngày 27/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI TỈNH THÁI BÌNH về hình sự - đánh bạc

  • Số bản án: 113/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nhung, Thông
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger