|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 113/2024/HS-ST Ngày: 10-12-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY - TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Cẩm Loan
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Lê Văn Tám
- Ông Đặng Thế Ứng
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Tín – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Tiểu M - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 12 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 102/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa ra vụ án xét xử số 116/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Hữu N, sinh ngày 23/10/2005, tại tỉnh Tiền Giang
Tên thường gọi: không.
Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp E, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
Số CCCD: [...]; cấp ngày 02/7/2021. Nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội- Bộ C
Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không
Nghề nghiệp: Hớt tóc; Trình độ học vấn: 9/12.Giới tính: Nam
Con ông Trần Ngọc K, sinh năm 1980 và bà Phạm Thị Kiều O, sinh năm 1982;
Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án: Không.
Tiền sự: 01 lần, ngày 11/01/2024, bị Ủy ban nhân dân thị xã C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 7.500.000 đồng về hành vi "Tàng trữ trái phép công cụ hỗ trợ", chấp hành xong quyết định ngày 17/01/2024.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất nhập cảnh từ ngày 15/6/2024 đến ngày 15/10/2024. Ngày 16/10/2024, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã C, tỉnh Tiền Giang khởi tố bị can và tạm giam trong vụ án "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Hiện nay bị cáo N đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Nguyễn Duy K1, sinh năm 2003 (có mặt);
Địa chỉ: Ấp E, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang. - Nguyễn Long H, sinh năm 2007 (có mặt);
Đại diện theo pháp luật của Nguyễn Long H: Nguyễn Phương Q (cha ruột); Cùng địa chỉ: 7 Quốc lộ A, khu phố B, Phường A, thị xã C, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt). - Võ Văn M1, sinh năm 2003 (có mặt);
Địa chỉ: Ấp M, xã M, thị xã C, tỉnh Tiền Giang. - Châu Chí K2, sinh năm 2002 (vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp E, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang. - Trần Nguyễn Tuấn A, sinh năm 2007 (có mặt);
Đại diện theo pháp luật của Trần Nguyễn Tuấn A: Trần Văn S, Cùng địa chỉ: 1 Đường Ấ T, khu phố B, Phường C, thị xã C, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt). - Nguyễn Trọng T, sinh năm 2007 (vắng mặt);
Đại diện theo pháp luật của Nguyễn Trọng T: Nguyễn Văn Đ (cha ruột). Cùng địa chỉ: Số C đường N, khu phố E, Phường B, thị xã C, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt); - Võ Huỳnh Nhựt H1, sinh năm 2006 (có mặt);
Đại diện theo pháp luật của Võ Huỳnh Nhựt H1: Ông Võ Quốc T1 (cha ruột); Cùng địa chỉ: số E đường N, khu phố E, Phường B, thị xã C, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt). - Trần Trường P, sinh năm 2003 (vắng mặt);
HKTT: Ấp M, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang. Chỗ ở hiện nay: khu phố M, phường N, thị xã C, tỉnh Tiền Giang. - Nguyễn Tấn T2, sinh năm 2003 (vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp F, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang. Nơi ở hiện nay: Khu phố A, Phường C, thị xã C, tỉnh Tiền Giang. - Nguyễn Hữu Đ1, sinh năm 2007 (vắng mặt);
Đại diện theo pháp luật của Nguyễn Hữu Đ1: Nguyễn Văn T3, cùng địa chỉ: ấp T, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Hữu N có mối quan hệ bạn bè quen biết với Nguyễn Duy K1, Châu Chí K2, Nguyễn Long H, Nguyễn Thành N1, Võ Văn M1, Trần Nguyễn Tuấn A, Võ Huỳnh Nhật H2 và Nguyễn Trọng T.
Vào khoảng 21 giờ ngày 15/02/2024, Nguyễn Long H cùng Nguyễn Thành N1 có xảy ra mâu thuẫn với nhóm của Nguyễn Hữu Đ1 do nhóm của Đ1 nẹt bô xe lớn tiếng tại khu vực cầu “B" thuộc Phường B, thị xã C, tỉnh Tiền Giang. Sau đó Đ1 gọi điện thoại cho Trần Trường P nhờ P gọi cho N1 hẹn nhóm của N1 đến đường 868 gần cầu vượt thuộc khu phố M, phường N, thị xã C, tỉnh Tiền Giang để nói chuyện còn H gọi cho Võ Văn M1. Lúc này M1 đang uống rượu cùng Nguyễn Duy K1, Châu Chí K2, Trần Hữu N, Trần Nguyễn Tuấn A, Võ Huỳnh Nhật H2, Nguyễn Trọng T. Mến đưa máy điện thoại cho Nguyễn Duy K1 để K1 nói chuyện với H thì H nhờ K1 ra đường 868 giải quyết mâu thuẫn dùm H, K1 đồng ý và rủ mọi người cùng đi thì tất cả đều đồng ý. Trước khi đi, Tuấn A về nhà lấy và mang theo 01 cây gậy bóng chày, N về nhà lấy và mang theo 01 cây gậy ba khúc, còn K1 về nhà lấy và mang theo 02 con dao tự chế, sau đó K1 đưa cho T 01 con dao, trên đường đi K1 gọi điện thoại cho Nguyễn Tấn T2 nói: “chạy xuống cầu vượt 868 nói chuyện dùm thằng B (tức H)", rồi cả nhóm chạy theo hướng gần đến cầu vượt H thì gặp Trần Trường P. Lúc này, Tuấn A dùng tay đánh vào người và dùng gậy bóng chày đánh vào người P 01 cái, T dùng dao tự chế chém nhẹ bằng cạnh răng cưa vào lưng của P 01 cái. Sau đó, cả nhóm kêu P quay lại cầu vượt 868 để nói chuyện, khi lên tới cầu thì Nguyễn Tấn T2 cũng đến, cả nhóm nói chuyện khoảng 10 phút thì lực lượng Công an đến, cả nhóm bỏ chạy sau đó bị lực lượng Công an mời làm việc.
* Vật chứng thu giữ, xử lý :
- 01 vật bằng kim loại hình trụ tròn dài 64,5cm gồm 03 khúc liên kết chặt chẽ với nhau, phần cán được bọc bằng vỏ nhựa màu đen dài 23,5cm, trên có ghi ký
hiệu “JSV-CERTIFIED", phần thân gồm 02 khúc dài 41cm, trên có ghi ký hiệu “5,11-TACTIAL SERIES", Ký hiệu A1.
- 01 dao tự chế bằng kim loại dài 79cm, cán dạng trụ tròn dài 22cm, phần lưỡi dài 57cm, bản rộng nhất 6cm, 01 cạnh sắt, 01 cạnh dạng răng cưa dài 12cm, mũi nhọn, thu giữ của Nguyễn Duy K1, ký hiệu A2.
- 01 vật bằng kim loại dạng trụ tròn màu đen dài 71cm, phần đầu có đường kính 2,7cm, phần đuôi có đường kính 5cm (gậy đánh bóng chày), thu giữ của Trần Nguyễn Tuấn A, ký hiệu A3 (đối với 01 dao tự chế do K1 đưa cho Nguyễn Trọng T mang theo, T đã vứt xuống kênh không thu giữ được).
* Tại Bản kết luận giám định số 260/KL-KTHS ngày 28/02/2024 của Phòng K4 Công an tỉnh T kết luận:
- Mẫu A1 là công cụ có tính năng, tác dụng tương tự dùi cui kim loại và thuộc công cụ hỗ trợ.
- Mẫu A2 là vũ khí tự chế, có cấu tạo, tính năng tác dụng tương tự như dao, không rõ nguồn gốc xuất xứ và thuộc danh mục vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự vũ khí thô sơ. Sử dụng mẫu vật ký hiệu A2 tấn công người có thể gây thương tích hoặc chết người.
- Mẫu A3 không phải là vũ khí thô sơ.
Tại Cáo trạng số 104/CT-VKSTXCL ngày 23/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Trần Hữu N về tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép công cụ hỗ trợ” quy định tại khoản 1 Điều 306 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Hữu N về tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép công cụ hỗ trợ” quy định tại khoản 1 Điều 306 Bộ luật Hình sự và phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, cùng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, đã đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Trần Hữu N phạm tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép công cụ hỗ trợ”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 306; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Hữu Nhân T4 06 tháng đến 09 tháng tù.
- Đối với vật chứng, đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 vật bằng kim loại hình trụ tròn dài 64,5cm gồm 03 khúc liên kết chặt chẽ với nhau, phần cán được bọc bằng vỏ nhựa màu đen dài 23,5cm, trên có ghi ký hiệu “JSV-CERTIFIED", phần thân gồm 02 khúc dài 41cm, trên có ghi ký hiệu “5,11-TACTIAL SERIES"
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Bị cáo không trình bày lời bào chữa. Nói lời nói sau cùng bị cáo trình bày biết ăn năn hối cải về hành vi phạm tội và xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
* Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo. Xét thấy:
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Hữu N đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận tội trên của bị cáo cơ bản đã phù hợp với các lời khai trước đây của bị cáo tại cơ quan điều tra, cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận bị cáo N có 01 tiền sự về hành vi "Tàng trữ trái phép công cụ hỗ trợ" chưa hết thời gian được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính; khoảng 21 giờ ngày 15/02/2024, tại khu phố M, phường N, thị xã C, tỉnh Tiền Giang, bị cáo Trần Hữu N lại có hành vi tàng trữ, sử dụng 01 vật bằng kim loại hình trụ tròn dài 64,5cm gồm 03 khúc liên kết chặt chẽ với nhau, phần cán được bọc bằng vỏ nhựa màu đen dài 23,5cm, trên có ghi ký hiệu "JSV-CERTIFIED", phần thân gồm 02 khúc dài 41cm, trên có ghi ký hiệu "5,11-TACTIAL SERIES" để đi giải quyết mâu thuẩn nhóm qua giám định là công cụ hỗ trợ. Vì vậy đủ cơ sở xác định bị cáo Trần Hữu N phạm tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép công cụ hỗ trợ” quy định tại khoản 1 Điều 306 Bộ luật Hình sự.
[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Xét thấy, bị cáo là người đã thành niên, có sức khoẻ và khả năng nhận thức về hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức được việc tàng trữ, sử dụng trái phép công cụ hỗ trợ khi chưa được sự cho phép của cơ quan chức năng là vi phạm pháp luật nhưng đã trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý xâm phạm đến chế độ quản lý, sử dụng công cụ hỗ trợ của Nhà nước. Bị cáo N đã bị xử phạt hành chính về hành vi "Tàng trữ trái phép công cụ hỗ trợ" cụ thể là tàng trữ trái phép gậy ba khúc thuộc danh mục công cụ hỗ trợ; đáng lẽ sau khi bị xử phạt hành chính bị cáo phải nâng cao ý thức, chấp hành pháp luật nhưng bị cáo không ăn năn hối cải mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mới tương tự, cụ thể là hành vi tàng trữ, sử dụng 01 vật bằng kim loại hình trụ tròn dài 64,5cm gồm 03 khúc liên kết chặt chẽ với nhau, phần cán được bọc bằng vỏ nhựa màu đen dài 23,5cm, trên có ghi ký hiệu "JSV-CERTIFIED", phần thân gồm 02 khúc dài 41cm, trên có ghi ký hiệu "5,11-TACTIAL SERIES" qua giám định là công cụ hỗ trợ. Hành vi của bị cáo dù ít nghiêm trọng nhưng gây mất an ninh trật tự trên địa bàn thể hiện ý thức xem thường pháp luật của bị cáo. Vì vậy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo trở thành người có ích trong xã hội và phòng ngừa chung cho các đối tượng khác.
Tuy nhiên, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét thấy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
[4] Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu và giao cho Công an thị xã C xử lý theo quy định pháp luật đối với 01 vật bằng kim loại hình trụ tròn dài 64,5cm gồm 03 khúc liên kết chặt chẽ với nhau, phần cán được bọc bằng vỏ nhựa màu đen dài 23,5cm, trên có ghi ký hiệu “JSV-CERTIFIED", phần thân gồm 02 khúc dài 41cm, trên có ghi ký hiệu “5,11-TACTIAL SERIES".
- Đối với 01 dao tự chế bằng kim loại dài 79cm, cán dạng trụ tròn dài 22cm, phần lưỡi dài 57cm, bản rộng nhất 6cm, 01 cạnh sắt, 01 cạnh dạng răng cưa dài 12cm, mũi nhọn, thu giữ của Nguyễn Duy K1, ký hiệu A2 và 01 vật bằng kim loại dạng trụ tròn màu đen dài 71cm, phần đầu có đường kính 2,7cm, phần đuôi có
đường kính 5cm (gậy đánh bóng chày), thu giữ của Trần Nguyễn Tuấn A, ký hiệu A3. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã C, tỉnh Tiền Giang đã chuyển cho Công an thị xã C, tỉnh Tiền Giang xử lý hành chính là phù hợp với quy định pháp luật.
[5] Các đối tượng nêu trên có hành vi tụ tập ở khu vực cầu vượt tỉnh lộ 868 thuộc khu phố M, phường N, thị xã C, tỉnh Tiền Giang. Do sự việc xảy ra vào ban đêm, tại nơi vắng vẻ, xung quanh khu vực này ít người qua lại, không gây rối trật tự công cộng, không gây ảnh hưởng xấu an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn và khi lực lượng Công an đến, các đối tượng đã giải tán nên hành vi trên các đối tượng không cấu thành tội "Gây rối trật tự công cộng" quy định tại Điều 318 Bộ luật Hình sự.
[6] Đối với Trần Nguyễn Tuấn A có hành vi dùng tay và gậy bóng chày đánh vào người Trần Trường P 01 cái và Nguyễn Trọng T có dùng dao tự chế chém nhẹ bằng cạnh răng cưa vào lưng Trần Trường P 01 cái nhưng không gây thương tích. Trần Trường P không yêu cầu xử lý hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã C, tỉnh Tiền Giang không xử lý hình sự và ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Trần Nguyễn Tuấn A và Nguyễn Trọng T về hành vi “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự” quy định tại điểm a khoản 5 Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ là có cơ sở và phù hợp quy định pháp luật.
[7] Đối với Nguyễn Duy K1 có hành vi cất giữ, mang theo các loại hung khí qua giám định là vũ khí tự chế, có cấu tạo, tính năng tác dụng tương tự như dao, không rõ nguồn gốc xuất xứ và thuộc danh mục vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự vũ khí thô sơ. Tuy nhiên, Nguyễn Duy K1 chưa có tiền án, tiền sự về nhóm hành vi vi phạm này nên không cấu thành “Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao hoặc công cụ hỗ trợ” được quy định tại Điều 306 Bộ luật Hình sự. Công an thị xã C, tỉnh Tiền Giang đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với K1 là phù hợp quy định pháp luật.
[8] Đối với Võ Văn M1, Châu Chí K2, Võ Huỳnh Nhật H2 và Nguyễn Tấn T2: Công an thị xã C, tỉnh Tiền Giang đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tham gia tụ tập nhiều người ở nơi công cộng gây mất trật tự
công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 7 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ là phù hợp quy định pháp luật.
[9] Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên chấp nhận.
* Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Về hình phạt
- Tuyên bố bị cáo Trần Hữu N phạm tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép công cụ hỗ trợ”
- Áp dụng khoản 1 Điều 306; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
Phạt bị cáo Trần Hữu N 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt chấp hành án.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu và giao cho Công an thị xã C, tỉnh Tiền Giang xử lý theo quy định pháp luật đối với 01 vật bằng kim loại hình trụ tròn dài 64,5cm gồm 03 khúc liên kết chặt chẽ với nhau, phần cán được bọc bằng vỏ nhựa màu đen dài 23,5cm, trên có ghi ký hiệu “JSV-CERTIFIED", phần thân gồm 02 khúc dài 41cm, trên có ghi ký hiệu “5,11-TACTIAL SERIES".
(Các vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Cai Lậy đang tạm giữ theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 29/10/2024)
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Trần Hữu N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Bị cáo Trần Hữu N, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Duy K3, Võ Văn M1 có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác và đại diện hợp pháp của họ vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Cẩm Loan |
Bản án số 113/2024/HS-ST ngày 10/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY - TỈNH TIỀN GIANG về tàng trữ, sử dụng trái phép công cụ hỗ trợ (vụ án hình sự)
- Số bản án: 113/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ, sử dụng trái phép công cụ hỗ trợ (Vụ án Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY - TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Hữu N - Tàng trữ, sử dụng công cụ hỗ trợ
