|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TRÀ VINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 113/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 09/12/2024
V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH TRÀ VINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Hằng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Trần Thị Sang
- Nguyễn Thị Thúy Liễu
Thư ký phiên tòa: Châu Thị Phượng Liên - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Nguyễn Hoàng Phúc Đức – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 12 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 41/2024/TLST- HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2024/QĐST - HNGĐ ngày 22 tháng 11 năm 2024 và giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Trần Thị Bé H, sinh năm 2004 (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: ấp Te Te 2, xã Tân H, huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh - Bị đơn: Sơn Quốc Đ, sinh năm 1996 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp Khánh Lộc, xã Song Lộc, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và lời trình bày của chị Trần Thị Bé H như sau:
Chị H và anh Đ chung sống năm 2023, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Song Lộc. Thời gian chung sống không có con chung. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm vợ chồng thường xuyên cự cãi, sống không hạnh phúc nên đã ly thân 7 tháng nay. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn thương anh Đ nữa nên yêu cầu tòa giải quyết như sau:
- Về hôn nhân: Chị H yêu cầu được ly hôn với anh Đ.
- Về con chung: Không có
- Về tài sản chung: Không có
- Về nợ chung: không có nên không yêu cầu tòa giải quyết.
* Phía anh Sơn Quốc Đ Tòa án đã thông báo thụ lý, thông báo tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, triệu tập xét xử nhiều lần nhưng vắng mặt không rõ lý do cũng không có văn bản trả lời cho Tòa án biết về việc khởi kiện của chị Nguyễn Thị Bé H
Tại phiên tòa Kiểm sát viên đã nhận định:
- Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Những vấn đề khác Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục giải quyết vụ án hôn nhân theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với các đương sự từ khi thụ lý cũng như tại phiên tòa hôm nay bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71, 72 và Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu của chị H cho chị được ly hôn với anh Đ. Về con chung: Không có. Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không xem xét. Về án phí buộc đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án chị H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Anh Đ đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không rõ lí do. Căn cứ vào Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự đủ căn cứ để xét xử vắng mặt đương sự.
- Về hôn nhân: Chị H và anh Đ chung sống với nhau vào năm 2023, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Song Lộc nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống thường xuyên cự cãi, sống không hạnh phúc nên đã ly thân đến nay đã được 7 tháng. Từ khi ly thân không ai hỏi thăm hay tới lui chăm sóc cho nhau. Tòa án đã tổ chức hòa giải động viên anh chị đoàn tụ lại với nhau nhưng anh Đ không đến nên không hòa giải được, chị H cương quyết ly hôn. Cho thấy mục đích hôn nhân không đạt được chung sống cũng không hạnh phúc nên hội đồng xử án chấp nhận cho chị H được ly hôn với anh Đ.
- Về con chung: Không có
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không đặt ra xem xét giải quyết.
- Quan điểm của Vị đại diện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28; 35; 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
Căn cứ nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án.
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Bé H cho chị được ly hôn với anh Sơn Quốc Đ.
Về con chung: Không có
Về tài sản chung: Không có nên không xem xét
Về nợ chung: Không có nên không xem xét.
Về án phí: Chị H nộp 300.000đ án phí hôn nhân sơ thẩm, số tiền này được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0009416 ngày 08/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành; Chị H không phải nộp nữa.
- Án xử công khai, vắng mặt nguyên đơn - bị đơn. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Thu Hằng |
Bản án số 113/2024/HNGĐ-ST ngày 09/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 113/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
