Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂN AN

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 113/2024/HS-ST

Ngày: 22 - 11 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Tuyến.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Chiếm.

Bà Nguyễn Thị Tĩnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết Ngân- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hữu Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở thành phố T, tỉnh Long An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 118/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 125/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Phước H, sinh ngày 07/02/1995 tại tỉnh Long An; nơi thường trú: số H ấp E, xã L, huyện T, tỉnh Long An; nơi ở hiện nay: số H ấp E, xã L, huyện T, tỉnh Long An; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; thẻ CCCD số: [...]; ngày cấp: 14/8/2022; nơi cấp: Cục C; trình độ học vấn: 7/12; nghề nghiệp: Làm mướn; tiền án, tiền sự: không; con ông: Trần Phước Đ, sinh năm 1977 (đã chết); con bà: Nguyễn Thị H1, sinh năm 1976; bị cáo Trần Phước H bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, từ ngày 06/6/2024 đến nay (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Bị hại: Lê Nguyễn Đăng K (đã chết), đại diện hợp pháp là ông Lê Hoàng Phương V, sinh năm 1973, địa chỉ: Số B S, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An (cha ruột bị hại) (vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1955;

Địa chỉ: số H, ấp E, xã L, huyện T, tỉnh Long An.

2. Ông Trần Văn Đ1, sinh năm 1955;

Địa chỉ: số H, ấp E, xã L, huyện T, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 01 giờ 00 phút, ngày 07/4/2024, bị cáo Trần Phước H điều khiển xe mô tô biển số 62D1-044.80 lưu thông trên đường T, theo hướng từ huyện T, tỉnh Long An ra Quốc lộ A. Khi đến trước trụ điện số 57, thuộc ấp B, xã N, thành phố T, tỉnh Long An thì không đi bên phải theo chiều đi của mình, nên xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 62B1-642.70 do Lê Nguyễn Đăng K điều khiển lưu thông hướng ngược lại. Hậu quả: Lê Nguyễn Đăng K tử vong tại chỗ; bị cáo Trần Phước H bị đa chấn thương được điều trị tại Bệnh viện C1 - Thành phố Hồ Chí Minh.

Kết quả khám nghiệm hiện trường: Đoạn đường xảy ra tai nạn được xác định trước trụ điện số E, đường T thuộc ấp B, xã N, thành phố T, tỉnh Long An. Mặt đường được tráng nhựa bằng phẳng, rộng 06m, ở giữa là vạch sơn vàng không liên tục, áp dụng lưu thông hai chiều, vào thời điểm xảy ra tai nạn đoạn đường có ánh sáng đèn đường. Chọn mép trái đường tỉnh 833 (hướng từ huyện T đi Quốc lộ A) làm đường chuẩn. Chọn trụ điện số 57 trên đường T làm điểm mốc. Tiến hành khám nghiệm theo hướng từ huyện T đi Quốc lộ A, các dấu vết được ghi nhận như sau:

  1. Vị trí vết cày: Không liên tục, dài 5,15m. Đầu vết cày cách đường chuẩn là 1,80m; cuối vết cày trùng với gác chân trước bên trái xe mô tô biển số 62B1-642.70.
  2. Vị trí vết cày: Không liên tục, dài 13,60m. Đầu vết cày cách đường chuẩn là 2,45m và cách đầu vết cày (1) là 3,75m; cuối vết cày trùng với gác chân trước bên phải xe mô tô biển số 62D1-044.80.
  3. Vị trí xe mô tô biển số 62B1-642.70: Trong trạng thái ngã nghiêng sang trái. T1 trục bánh trước cách đường chuẩn là 1,90m và tâm trục bánh sau cách đường chuẩn là 01m.
  4. Vị trí nạn nhân: Từ đỉnh đầu cách đường chuẩn là 1,70m và cách tâm trục bánh sau xe (3) là 3,70m; giữa hai chân nạn nhân cách đường chuẩn là 0,60m.
  5. Vị trí xe mô tô biển số 62D1-044.80: Trong trạng thái ngã nghiêng sang phải. Đầu xe hướng về Quốc lộ A, đuôi xe hướng về chiều ngược lại. T1 trục bánh trước cách đường chuẩn là 5,25m và tâm trục bánh sau cách đường chuẩn là 5,95m.

Kết quả khám phương tiện thể hiện:

Xe mô tô biển số 62B1-642.70: Hệ thống đèn chiếu sáng trước, đèn xi nhan bị hư hỏng hoàn toàn. Ốp nhựa bảo vệ phía trước đầu xe bị hư hỏng đứt rời khỏi vị trí ban đầu. Mũi chắn bùn trước có dấu vết va chạm thụng mốp từ ngoài vào trong. Ốp nhựa giảm sốc trước và phần cánh yếm bên phải bị đứt rời khỏi vị trí ban đầu. Vành sau kim loại bị thụng mốp từ ngoài vào trong gây biến dạng bung ruột xe và mặt lăn bánh xe ra ngoài. Cần sang số (phần lên) bị đẩy về sau 105°. Phần nhựa bao gác chân trước bên trái bị bung rời khỏi vị trí ban đầu. Phần bảo vệ đèn sau bên trái bị vỡ hoàn toàn.

Xe mô tô biển số 62D1-044.80: Phần ốp nhựa bảo vệ đồng hồ xe bị hư hỏng, đứt rời hoàn toàn. Ốp nhựa bảo vệ tay cầm bên trái và bên phải bị bung rời khỏi vị trí ban đầu. Ốp máy bị hư hỏng hoàn toàn. Gác chân trước bên phải bị thụng mốp đẩy về sau. Cần sang số và gác chân trước bên trái bị đẩy ngược về sau.

Bản kết luận giám định tử thi số 60/KLGĐTT-TTPY ngày 19/4/2024 của Trung tâm P kết luận: Nạn nhân Lê Nguyễn Đăng K, sinh năm 2004 tử vong do chấn thương sọ não nặng.

Bản kết luận giám định độc chất số 560/747/748/24/KLGĐĐC-PYQG, ngày 08/5/2024 của P1 tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận mẫu máu của nạn nhân Lê Nguyễn Đăng K như sau: Không tìm thấy cồn và các chất ma túy, gây nghiện.

Phiếu kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu ngày 07/4/2024 tại Bệnh viện C1, Thành phố Hồ Chí Minh của Trần Phước H là: 106 mg/100 ml máu.

Bản kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 5917/KLGĐ ngày 14/8/2024 của Trung tâm Pháp y Tâm thần khu vực Thành phố H kết luận:

  • - Về y học: Trước, sau thời điểm gây tai nạn giao thông vào khoảng 01 giờ 00 ngày 07/4/2024 cho đến hiện tại Đối tượng Trần Phước H bị Động kinh (G40-ICD10). Tại thời điểm gây tai nạn giao thông vào khoảng 01 giờ 00 ngày 07/4/2024 Đối tượng Trần Phước H bị say rượu thông thường/ Động kinh (F10.0/G40-ICD10).
  • - Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Trước, sau thời điểm gây tai nạn giao thông vào khoảng 01 giờ 00 ngày 07/4/2024 cho đến hiện tại Đối tượng Trần Phước H đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
  • Tại thời điểm gây tai nạn giao thông vào khoảng 01 giờ 00 ngày 07/4/2024 Đối tượng Trần Phước H mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
  • - Ý kiến khác: Nguyên nhân đối tượng Trần Phước H mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi tại thời điểm gây tai nạn giao thông vào khoảng 01 giờ 00 ngày 07/4/2024 là do say rượu thông thường.

Cơ quan điều tra tạm giữ: 01 (một) xe mô tô biển số 62B1-642.70; 01 (một) xe mô tô biển số 62D1-044.80. Cơ quan điều tra đã trả lại các tài sản trên cho chủ sở hữu hợp pháp.

Về trách nhiệm dân sự: Phía gia đình nạn nhân không có yêu cầu và có đơn xin bãi nại, không yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Trần Phước H.

Bản Cáo trạng số 114/CT-VKSTA ngày 29/10/2024, Viện kiểm sát nhân thành phố T, tỉnh Long An truy tố bị cáo Trần Phước H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: Điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự. Xử phạt Trần Phước H 03 năm tù. Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đưa ra quan điểm về, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và tuyên án phí đối với bị cáo.

Trong phần tranh luận và lời nói sau cùng: Bị cáo Trần Phước H chỉ xin giảm nhẹ, xin được hưởng án treo và không có tranh luận gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra Công an thành phố T và Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử xác định các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
  2. [2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người tham gia tố tụng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 01 giờ 00 phút, ngày 07/4/2024, bị cáo Trần Phước H không có giấy phép lái xe, điều khiển xe mô tô biển số 62D1-044.80 trong người có nồng độ cồn, lưu thông trên đường T, theo hướng từ huyện T, tỉnh Long An ra Quốc lộ A. Khi đến trước trụ điện số 57, thuộc ấp B, xã N, thành phố T, tỉnh Long An thì không đi bên phải theo chiều đi của mình, nên xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 62B1-642.70 do Lê Nguyễn Đăng K điều khiển lưu thông hướng ngược lại. Hậu quả Lê Nguyễn Đăng K tử vong tại hiện trường.

Hành vi nêu trên của Trần Phước H đã vi phạm vào khoản 8, khoản 9 và khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ, gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm trật tự công cộng, gây thiệt hại tính mạng người khác và đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” tội phạm, hình phạt quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự (BLHS). Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An truy tố bị cáo theo bản Cáo trạng số 114/CT-VKS ngày 29/10/2024 là hoàn toàn có căn cứ pháp lý, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

  1. [3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra thể hiện bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Trần Phước H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo có ông nội tên Trần Văn Đ1 tham gia chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế; gia đình nạn nhân có đơn xin bãi nại, không yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Trần Phước H, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó khi quyết định hình phạt có xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần.
  2. [4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, phạm tội với lỗi vô ý nên HĐXX thống nhất miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  3. [5] Về trách nhiệm dân sự: Phía gia đình nạn nhân không có yêu cầu và có đơn xin bãi nại, không yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Trần Phước H nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  4. [6] Về vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra tạm giữ: 01 (một) xe mô tô biển số 62B1-642.70; 01 (một) xe mô tô biển số 62D1-044.80. Cơ quan điều tra đã trả lại các tài sản trên cho chủ sở hữu hợp pháp.
  5. [7] Đối với việc Trần Phước H sử dụng xe mô tô là do H tự ý, bà Nguyễn Thị T, ông Trần Văn Đ1 không giao xe cho H nên không cấu thành hành vi giao cho người không đủ điều kiện phương tiện tham gia giao thông đường bộ theo quy định, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố T không xem xét trách nhiệm.
  6. [8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Phước H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  2. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);
    Xử phạt bị cáo Trần Phước H 03 (Ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
  3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội buộc bị cáo Trần Phước H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chỉ có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.
  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Long An; (01)
  • - Viện KSND tỉnh Long An; (01)
  • - VKSND tp Tân An; (01)
  • - Công an tp Tân An; (01)
  • - Chi cục THADS tp Tân An; (01)
  • - UBND (nơi bị cáo cư trú); (01)
  • - Sở Tư pháp tỉnh Long An; (01)
  • - Bị cáo; (01)
  • - Địa diện người bị hại; (01)
  • - Người liên quan; (01)
  • - Bộ phận THA hình sự; (07)
  • - Lưu: hồ sơ vụ án, AV. (02)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Ngọc Tuyến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 113/2024/HS-ST ngày 22/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 113/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Trần Phước Huy phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger