Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 113/2024/HS-ST

Ngày 20/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Cơ Dũng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Lê Thu
  2. Ông Lâm Viên Đức

- Thư ký phiên tòa: Bà Vương Thanh Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 11

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:

Ông Lê Đức Huy - Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 11 năm 2024, tại phòng xử án hình sự, trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai Vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 119/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Đoàn Văn T (tên gọi khác: Sao); sinh năm 1969, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: 7 L, Phường 1, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn N (chết) và bà Đoàn Thị H (chết); tiền án: Ngày 02/02/1999 bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 07 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 237/HSST. Ngày 28/9/2000 bị cáo trốn trại; chưa chấp hành xong khoản nộp tiền án phí; tiền sự: Ngày 13/7/2015 bị Tòa án nhân dân Quận 11 áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian 24 tháng, theo Quyết định số 51/2015/QĐ-TA; chấp hành xong ngày 08/02/2017. Ngày 25/4/2017 bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian 18 tháng, theo Quyết định số 70/QĐ-TA; chấp hành xong ngày 17/8/2018. Ngày 25/3/2019 bị Tòa án nhân dân quận Tân Phú áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian 24 tháng, theo Quyết định số 42/QĐ-TA; chấp hành xong ngày 02/12/2020. Ngày 07/4/2021 bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian 21 tháng, theo Quyết định số 91/QĐ-TA; chấp hành xong ngày 05/10/2022; nhân thân: Ngày 06/9/1995 bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình xử phạt 03 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo Bản án số 1172/HSST; ngày 11/12/1997 chấp hành xong án, đã được xóa án tích. Ngày 07/3/2001 bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 05 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” và 01 năm tù về tội “Trốn khỏi nơi giam giữ”; tổng hợp hình phạt là 06 năm tù; tổng hợp hình phạt của Bản án số 237/HSST, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 10 năm 05 tháng 23 ngày; đã chấp hành xong án phạt tù, đã được xóa án tích; bị bắt tạm giữ ngày 28/6/2024, chuyển tạm giam từ ngày 07/7/2024, tại Nhà tạm giữ Công an Q; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  2. Lê Văn H1 (tên gọi khác: Không); sinh năm 1974, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: C T, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (bị cáo tự khai). Chỗ ở: Không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Đ (chết) và bà Nguyễn Thị X (chết); tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 15/7/1990, thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, bị Công an Q bắt phạt cảnh cáo nhưng không lưu hồ sơ xử phạt. Ngày 22/10/1991 bị Tòa án nhân dân 11 xử phạt 04 tháng tù cho hưởng án treo 12 tháng thử thách về tội “Trộm cắp tài sản”, theo Bản án số 203/HSST; đã xóa án tích. Ngày 08/8/1996 bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 33 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo Bản án số 1239/HSST; đã xóa án tích. Ngày 12/6/1998 bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 05 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo Bản án số 1150/HSST; đã xóa án tích. Ngày 10/7/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian 24 tháng, theo Quyết định số 373/QĐ-TA; chấp hành xong ngày 18/4/2019; bị bắt tạm giữ ngày 28/6/2024, chuyển tạm giam từ ngày 07/7/2024, tại Nhà tạm giữ Công an Q; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Trương Văn B, sinh năm 1981; địa chỉ: D L, Phường E, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Kim P, sinh năm 1971; địa chỉ: 7 L, Phường 1, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 22 giờ ngày 24/6/2024, đối tượng Lê Văn H1 điều khiển xe Nouvo (biển số 73B1-018.93) đến khách sạn H2 (địa chỉ B T, phường H, quận T) để gặp đối tượng Đoàn Văn T. Cả hai cùng đi xem bóng đá đến rạng sáng ngày 25/6/2024, đối tượng T rủ đối tượng H1 đi trộm cắp tài sản bán lấy tiền chia nhau tiêu xài, đối tượng H1 đồng ý. Đối tượng H1 mặc áo xe ôm công nghệ G và điều khiển xe Nouvo chở đối tượng T đi lòng vòng nhiều tuyến đường. Khi cả hai đi ngang qua quán phở tại địa chỉ số D L, Phường E, Quận A thì đối tượng T kêu đối tượng H1 dừng lại để đối tượng T vào bên trong tìm tài sản trộm cắp. Đối tượng H1 đồng ý và đứng bên ngoài đợi. Đối tượng T vào quán phở và gọi ông Trương Văn B (sinh năm 1981; cư trú: D L, Phường E, Quận A) bán 03 tô phở mang về. Khi ông B vào trong bếp để nấu phở thì đối tượng T đi đến tủ nước và lấy nước uống rồi ngồi tại dãy bàn nơi ông B để điện thoại Iphone 12 Pro Max đang sạc pin. Lợi dụng lúc ông B đang nấu phở, đối tượng T lén lút lấy trộm điện thoại Iphone 12 Pro Max của ông B rồi đi ra để đối tượng H1 chở đi. Khi ông B làm xong 03 phần phở và đi đến dãy bàn nơi để điện thoại sạc pin thì phát hiện điện thoại Iphone 12 Pro M đã bị trộm. Ông B xem lại camera thì thấy đối tượng Đoàn Văn T là người lấy trộm điện thoại Iphone 12 Pro Max. Sau đó, ông B đến Công an P1, Quận A trình báo sự việc.

Sau khi thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, đối tượng H1 chở đối tượng T về lại khách sạn H2 (địa chỉ: B T, phường H, quận T). Sau đó, đối tượng T bán điện thoại cho đối tượng tên L (chưa rõ lai lịch) với giá 2.000.000 đồng. Đến khoảng 20 giờ ngày 25/6/2024, đối tượng T đến chỗ làm của đối tượng H1 báo đã bán được điện thoại với số tiền là 2.000.000 đồng, trừ tiền thuê khách sạn còn lại 1.600.000 đồng nên chia cho đối tượng H1 800.000 đồng. Đối tượng T mượn lại đối tượng H1 200.000 đồng để tiêu xài cá nhân, số tiền thực tế đối tượng H1 nhận được là 600.000 đồng.

Ngày 27/6/2024, đối tượng Đoàn Văn T nghe nói đối tượng H1 đã bị bắt, nên đối tượng T đi chuộc lại điện thoại và nhờ cháu gái là bà Nguyễn Kim P mang đi trả lại cho ông Trương Văn B. Ông B giao nộp vật chứng là chiếc điện thoại cho Cơ quan điều tra để tiến hành xử lý theo quy định.

Cơ quan điều tra đã mời bà Nguyễn Kim P làm việc, bà P trình bày: Khoảng 21 giờ ngày 27/6/2024, bà P được cậu ruột là bị can Đoàn Văn T kể lại việc bị can T lấy trộm điện thoại tại quán phở rồi bán được 2.000.000 đồng, đang bị Công an truy tìm. Do đó, bị can T đã chuộc lại điện thoại và nhờ bà P mang đi trả. Khoảng 22 giờ ngày 27/6/2024, bà P mang điện thoại Iphone 12 Pro Max màu xanh đến trả lại cho ông B.

Bị can Đoàn Văn T xác định nơi bán điện thoại Iphone 12 Pro Max cho người tên L là tại địa chỉ 0.03-0.04 Lô C chung cư L, Phường G, Quận A. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã tiến hành xác minh người đàn ông tên L. Qua xác minh tại Công an P2, Quận A xác định tại địa chỉ 0.03-0.04 Lô C chung cư L không có người tên L như lời khai của bị can T.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, bị can Đoàn Văn T và bị can Lê Văn H1 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 33/KL-HĐĐGTS ngày 02/7/2024, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân Quận A xác định giá trị của điện thoại Iphone 12 Pro Max màu xanh đen, 128GB mua vào năm 2021, điện thoại đã qua sử dụng tại thời điểm ngày 25/6/2024 có giá là 10.350.000 đồng.

Vật chứng của vụ án:

  • Một USB chứa nội dung Camera liên quan vụ “Trộm cắp tài sản” (lưu hồ sơ vụ án).
  • Hai đĩa DVD dữ liệu ghi lời khai ghi âm, ghi hình (lưu hồ sơ vụ án).
  • Một điện thoại Iphone 12 Pro max, màu xanh, dung lượng 128GB, điện thoại đã qua sử dụng, là tài sản của bị hại Trương Văn B. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại điện thoại trên cho bị hại Trương Văn B.
  • Một nón kết màu đen, viền nón màu trắng, có chữ “CHANEL”, là tài sản cá nhân của bị can H1 sử dụng khi đi trộm cắp tài sản vào ngày 25/6/2024.
  • Một điện thoại di động S, màu đen, điện thoại đã qua sử dụng, là tài sản cá nhân của bị can H1.
  • Một xe máy Yamaha Nouvo, màu trắng đen, biển số 73B1-018.93, xe đã qua sử dụng, là phương tiện bị can H1 sử dụng chở bị can T đi trộm cắp tài sản vào ngày 25/6/2024. Qua xác minh, Cơ quan cảnh sát điều tra đã xác định được người đứng tên chủ sở hữu xe là bà Hồ Thị N1 (địa chỉ: T, xã Q, huyện Đ, tỉnh Quảng Bình). Qua làm việc, bà Hồ Thị N1 trình bày xe trên do bà N1 mua mới vào năm 2011 với giá 39.000.000 đồng. Đến năm 2023, bà N1 đã bán chiếc xe cho một người đàn ông (chưa rõ lai lịch) với giá 2.000.000 đồng; khi bán xe bà N1 không có làm giấy tờ mua bán. Bị can Lê Văn H1 xác định chiếc xe do bị can H1 mua lại của một người khách hay uống cà phê tại quán V với giá 3.900.000 đồng vào khoảng tháng 10 năm 2023. Khi mua xe, bị can H1 có làm giấy tờ mua bán viết tay nhưng do bị can H1 bị rơi mất bóp nên đã bị mất giấy mua bán xe. Bị can H1 không biết thông tin lai lịch người bán xe cho bị can H1. Ngày 07/8/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q có Công văn số 2019/CSĐT-ĐCSHS gửi Ban biên tập Báo Công an Thành phố H đăng báo tìm chủ sở hữu xe, hiện chưa có kết quả.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trương Văn B đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Tại Bản cáo trạng số 123/CT-VKSQ11 ngày 18/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 truy tố bị can Đoàn Văn T và Lê Văn H1 tội danh “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, các bị cáo Đoàn Văn T và Lê Văn H1 có lời khai phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra và những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Bị hại là ông Trương Văn B vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra. Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Kim P vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 trình bày lời luận tội, đề nghị mức hình phạt đối với các bị cáo như sau:

  • Đề nghị xử phạt bị cáo Đoàn Văn T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
  • Đề nghị xử phạt bị cáo Lê Văn H1 từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 đề nghị xử lý vật chứng như sau:

  • Lưu vào hồ sơ vụ án một USB chứa nội dung Camera liên quan vụ án và hai đĩa DVD dữ liệu ghi lời khai ghi âm, ghi hình.
  • Tịch thu, tiêu hủy một nón kết màu đen, viền nón màu trắng, có chữ "CHANEL".
  • Trả lại cho bị cáo Lê Văn H1 một điện thoại di động S, màu đen.
  • Tiếp tục đăng báo để truy tìm chủ sở hữu của chiếc xe máy Yamaha Nouvo, màu trắng đen, biển số 73B1-018.93. Trường hợp quá thời hạn quy định mà không truy tìm chủ sở hữu thì giải quyết tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Vào lúc rạng sáng ngày 25/6/2024, tại quán phở tại địa chỉ số D L, Phường E, Quận A, các bị cáo Đoàn Văn T và Lê Văn H1 đã có hành vi lén lút chiếm đoạt chiếc điện thoại Iphone 12 Pro max, màu xanh, dung lượng 128GB của ông Trương Văn B.

Giá trị tài sản mà các bị cáo chiếm đoạt của ông Trương Văn B là 10.350.000 đồng.

Hành vi nêu trên của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”; tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hành vi phạm tội của các bị cáo mang tính chất đồng phạm, tuy nhiên đó chỉ là sự câu kết giản đơn. Bị cáo Đoàn Văn T là người rủ rê, trực tiếp thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, trực tiếp mang tài sản đi tiêu thụ. Bị cáo Lê Văn H1 là người điều khiển xe chở bị cáo Đoàn Văn T đi tìm tài sản để chiếm đoạt, đứng bên ngoài cảnh giới và điều khiển xe chở bị cáo T tẩu thoát. Vai trò của bị cáo Đoàn Văn T là nguy hiểm hơn bị cáo Lê Văn H1, do đó, khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo Đoàn Văn T với mức án nghiêm khắc hơn bị cáo Lê Văn H1.

Các bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản nhằm mục đích bán lấy tiền tiêu xài. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Bản thân các bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì tư lợi, lười lao động các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để trừng trị và giáo dục các bị cáo, đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa chung.

  1. Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo chủ động đi chuộc lại điện thoại để trả lại cho bị hại, thuộc trường hợp “tự nguyện sửa chữa, khắc phục hậu quả” nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Đoàn Văn T có một tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” vào năm 1999 chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội nên thuộc trường hợp “tái phạm” là tình tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Đoàn Văn T có bốn tiền sự về hành vi sử dụng ma túy theo quy định tại khoản 2 Điều 7 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

  1. Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:

Về xử lý vật chứng:

  • Đối với vật chứng là một USB chứa nội dung Camera liên quan vụ án và hai đĩa DVD dữ liệu ghi lời khai ghi âm, ghi hình do Công an P1, Quận A và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q lập biên bản trích xuất từ camera. Căn cứ khoản 2 Điều 107 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q xử lý lưu vào hồ sơ vụ án là đúng quy định của pháp luật.
  • Đối với vật chứng là một điện thoại Iphone 12 Pro max, màu xanh, dung lượng 128GB, điện thoại đã qua sử dụng, là tài sản của bị hại Trương Văn B. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại điện thoại trên cho bị hại Trương Văn B. Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 xử lý vật chứng đúng quy định của pháp luật nên không giải quyết lại.
  • Đối với vật chứng là một nón kết màu đen, viền nón màu trắng, có chữ “CHANEL”, là tài sản cá nhân của bị cáo Lê Văn H1 sử dụng khi đi trộm cắp tài sản vào ngày 25/6/2024. Bị cáo không có nhu cầu nhận lại tài sản. Tài sản không còn giá trị sử dụng. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử giải quyết tịch thu, tiêu hủy.
  • Đối với vật chứng là một điện thoại di động Samsung J7 Pro, màu đen, điện thoại đã qua sử dụng, là tài sản cá nhân của bị cáo Lê Văn H1 không sử dụng vào việc phạm tội. Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử giải quyết trả lại cho bị cáo.
  • Đối với vật chứng là một xe máy Yamaha Nouvo, màu trắng đen, biển số 73B1-018.93, xe đã qua sử dụng, là phương tiện bị cáo H1 sử dụng chở bị cáo T đi trộm cắp tài sản vào ngày 25/6/2024, là phương tiện dùng vào việc phạm tội. Qua xác minh, Cơ quan cảnh sát điều tra đã xác định được người đứng tên chủ sở hữu xe là bà Hồ Thị N1 (địa chỉ: T, xã Q, huyện Đ, tỉnh Quảng Bình). Qua làm việc, bà Hồ Thị N1 trình bày xe trên do bà N1 mua mới vào năm 2011 với giá 39.000.000 đồng. Đến năm 2023, bà N1 đã bán chiếc xe cho một người đàn ông (chưa rõ lai lịch) với giá 2.000.000 đồng; khi bán xe bà N1 không có làm giấy tờ mua bán. Bị cáo Lê Văn H1 xác định chiếc xe do bị cáo H1 mua lại của một người khách hay uống cà phê tại quán V với giá 3.900.000 đồng vào khoảng tháng 10 năm 2023. Khi mua xe, bị cáo H1 có làm giấy tờ mua bán viết tay nhưng do bị cáo H1 bị rơi mất bóp nên đã bị mất giấy mua bán xe. Bị cáo H1 không biết thông tin lai lịch người bán xe cho bị cáo H1. Ngày 07/8/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q có Công văn số 2019/CSĐT-ĐCSHS gửi Ban biên tập Báo Công an Thành phố H đăng báo tìm chủ sở hữu xe, hiện chưa có kết quả. Hội đồng xét xử xét thấy chiếc xe trên là phương tiện do các bị cáo dùng vào việc phạm tội nhưng chưa xác định được chủ sở hữu xe nên giải quyết giao cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Dân sự năm 2015; trường hợp không xác định được chủ sở hữu của chiếc xe nêu trên trong thời hạn luật định thì giải quyết tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trương Văn B đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.

  1. Trong quá trình điều tra, truy tố các bị cáo Đoàn Văn T, Lê Văn H1, điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 được phân công điều tra, kiểm sát giải quyết vụ án đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của điều tra viên, kiểm sát viên. Do đó, có cơ sở để xác định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.
  1. Về việc xem xét hành vi của đối tượng có liên quan trong quá trình điều tra vụ án:

Đối với đối tượng tên L là người đã mua chiếc điện thoại do các bị cáo chiếm đoạt, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q đã tiến hành xác minh nhưng chưa xác định được lai lịch nên chưa có cơ sở để xử lý. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q đang tiếp tục xác minh, khi nào truy xét được sẽ xử lý sau.

Đối với đối tượng Nguyễn Kim P là cháu ruột của bị cáo Đoàn Văn T đã được bị cáo T nhờ đem trả chiếc điện thoại cho bị hại Trương Văn B. Đối tượng Nguyễn Kim P không biết và không tham gia việc chiếm đoạt tài sản của ông Trương Văn B, không hưởng lợi gì từ hành vi phạm tội của các bị cáo nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q không xử lý truy cứu trách nhiệm là đúng quy định của pháp luật, vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét lại.

  1. Về án phí: Các bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 38; Điều 50; Điều 58; khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Đoàn Văn T;

Căn cứ Điều 38; Điều 50; Điều 58; khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Lê Văn H1;

Tuyên bố các bị cáo Đoàn Văn T và Lê Văn H1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Đoàn Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 28/6/2024.

Xử phạt bị cáo Lê Văn H1 01 (một) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 28/6/2024.

Căn cứ Điều 228 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 107 Bộ luật Tố tụng hình sự;

  • Lưu vào hồ sơ vụ án một USB chứa nội dung Camera liên quan vụ án và hai đĩa DVD dữ liệu ghi lời khai ghi âm, ghi hình.
  • Tịch thu, tiêu hủy một nón kết màu đen, viền nón màu trắng, có chữ “CHANEL” (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 1014/LNK-ĐCSHS ngày 31/7/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q).
  • Trả lại cho bị cáo Lê Văn H1 một điện thoại di động S, màu đen (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 1014/LNK-ĐCSHS ngày 31/7/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q).
  • Giao cho Chi cục thi hành án dân sự Quận 11 thông báo trong thời hạn 12 tháng để chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp (nếu có) đến nhận đối với chiếc xe máy Yamaha Nouvo, màu trắng đen, biển số 73B1-018.93. Quá thời hạn trên kể từ ngày Chi cục thi hành án dân sự Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành thông báo mà không có chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp liên hệ nhận thì tịch thu sung vào ngân sách nhà nước (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 1014/LNK-ĐCSHS ngày 31/7/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q).

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Án phí hình sự sơ thẩm, mỗi bị cáo phải chịu là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • TAND - VKSND TPHCM;
  • Sở Tư pháp TPHCM;
  • PC 27 - CA TPHCM;
  • VKSND Q11;
  • Công an Q11;
  • Chi cục THADS Q11;
  • Những người tham gia tố tụng;
  • Lưu hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Cơ Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 113/2024/HS-ST ngày 20/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 113/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger