Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 113/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 14-11-2024

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Bạch Tuyết

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Phạm Thị Thu Yến
  2. Ông Đoàn Anh Minh.

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Trung Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án thụ lý số: 554/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 111/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 84/2024/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1988; địa chỉ thường trú: Ấp B, xã A, huyện C, tỉnh An Giang; địa chỉ tạm trú: P nhà T, Tổ E, khu phố Ô, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
  2. Bị đơn: Ông Võ Văn K, sinh năm 1988; địa chỉ thường trú: Ấp R, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau; địa chỉ tạm trú: Nhà T, số nhà A, B, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Võ Văn K tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau theo Giấy chứng nhận kết hôn số 141/2012; Quyển số 02/2012 ngày 26/11/2012. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp nhau, thường xuyên bất đồng quan điểm sống; đã sống ly thân từ lâu và không ai quan tâm đến cuộc sống của ai nữa.

Nay, bà T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông K.

- Về con chung: Có 02 con chung tên Võ Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 11/01/2014 và cháu Võ Nguyễn Cát T1, sinh ngày 24/7/2017. Khi ly hôn bà T yêu cầu giao 02 con chung cho ông K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục vì từ khi sống ly thân 02 con chung do ông K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị Thu T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con, mỗi tháng 1.000.000 đồng/tháng/01con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Võ Văn K đã được Tòa án thông báo và tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định tại các Điều 179; Điều 208; Điều 220; Điều 227 và Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự, nhưng ông K không đến Tòa án làm việc và vắng mặt tại phiên tòa.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật tố tụng. Riêng bị đơn không chấp hành đúng pháp luật tố tụng.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, nhận thấy yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng: Bà T khởi kiện ông K yêu cầu ly hôn, ông K hiện đang sinh sống tại địa chỉ: Nhà T, số nhà A, B, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Thuận An thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.
  2. Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án thông báo và tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Võ Văn K theo đúng quy định tại các Điều 179; Điều 208; Điều 220; Điều 227 và Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự, nhưng ông K không đến Tòa án làm việc và vắng mặt tại phiên tòa. Việc vắng mặt của ông K trong quá trình tố tụng được xem là từ bỏ quyền trình bày, đưa ra chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự
  3. Về nội dung vụ án:
    1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu T và ông Võ Văn K tự nguyện tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau theo Giấy chứng nhận kết hôn số 141/2012; Quyển số 02/2012 ngày 26/11/2012 là hôn nhân hợp pháp.

    Quá trình tố tụng bà T xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp nhau, hay cãi vã, sống không hạnh phúc nên bà T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông K.

    Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa người vợ và người chồng chỉ tồn tại bền vững dựa trên tình cảm thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình và khi có những bất đồng trong quan hệ vợ chồng thì người vợ và người chồng phải cùng nhau tích cực hàn gắn, xóa bỏ những mâu thuẫn, duy trì tình cảm tốt đẹp của vợ chồng. Nhưng quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông K không đạt được các yếu tố của một gia đình hạnh phúc. Do tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, Tòa án nhiều lần triệu tập ông K tham gia phiên hòa giải để vợ chồng đoàn tụ, nhưng ông K vắng mặt thể hiện thái độ không muốn hòa giải. Mặt khác, hiện nay vợ chồng đã sống ly thân, bà T xác định bà không còn tình cảm với ông K, không còn quan tâm, yêu thương, chăm sóc nhau nữa nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà T về việc ly hôn với ông K.

    1. Về con chung: Có 02 con chung tên Võ Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 11/01/2014 và cháu Võ Nguyễn Cát T1, sinh ngày 24/7/2017. Khi ly hôn bà T yêu cầu giao 02 con chung cho ông K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Xét thấy, từ khi vợ chồng sống ly thân 02 con chung do ông K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; nguyện vọng của 02 con muốn sống với ông K nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà T.

    - Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị Thu T tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con, mỗi tháng 1.000.000 đồng/tháng/01con là tự nguyện nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

    1. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  4. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
  5. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình;
  • - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu T với bị đơn ông Võ Văn K về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
    • - Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu T được ly hôn ông Võ Văn K.
    • - Về con chung: Giao cháu Võ Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 11/01/2014 và cháu Võ Nguyễn Cát T1, sinh ngày 24/7/2017 cho ông Võ Văn K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
    • - Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị Thu T phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con mỗi tháng 1.000.000 đồng/tháng/01con.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thanh toán số tiền nêu trên thì người phải thi hành án còn phải trả cho người được thi hành án khoản tiền lãi bằng mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

    • - Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thu T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0002722 ngày 20 tháng 8 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương. Bà Nguyễn Thị Thu T còn phải nộp số tiền 300.000 đồng còn lại.
  3. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
  4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Thuận An;
  • - Chi cục THADS thành phố Thuận An;
  • - Chánh án (để báo cáo);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Bạch Tuyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 113/2024/HNGĐ-ST ngày 14/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 113/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận kk
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger