Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN B

TỈNH LONG AN

Bản án: 113/2024/HS-ST

Ngày: 14 - 11 -2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Thảnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Bà Nguyễn Thị Hưởng
  • Ông Nguyễn Thành Dững

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Nam – Thư ký Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Long An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Xuân Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 115/2024/HSST ngày 22 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 117/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Hoàng M, sinh ngày 09/10/2002, tại Hậu Giang; Nơi cư trú: Ấp V, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 4/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hoàng G và bà Đỗ Thị Bích T, chưa vợ, con; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 30/7/2024 cho đến nay (có mặt);

- Bị hại: Nguyễn Tấn T1, sinh năm 1998. Có mặt;

Địa chỉ: Số A N, khu phố F, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An.

- Người làm chứng:

  1. Đặng Tấn Ư, sinh năm 1998. Vắng mặt;
  2. Địa chỉ: Ấp D, xã L, huyện C, tỉnh Long An.

  3. Hà Văn G1, sinh năm 1998. Vắng mặt;
  4. Địa chỉ: Ấp B, xã M, huyện B, tỉnh Long An.

  5. Phan Văn N, sinh năm 1995. Vắng mặt;
  6. Địa chỉ: Ấp F, xã A, huyện B, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 25/10/2023, Lê Hoàng M, Đặng Tấn Ư, Hà Văn G1 uống bia tại quán A thuộc Khu phố I, thị trấn B, huyện B. Đến khoảng 01 giờ 00 phút cùng ngày thì có Nguyễn Tấn T1 đi với 01 thanh niên tên P đến quán và ngồi vào nhậu cùng bàn với M, trong lúc nhậu M và T1 nói chuyện Mộng thiếu tiền tiếp viên thì xảy ra cự cải mâu thuẫn, lúc này T1 đứng dậy cầm ly thủy tinh dùng để uống bia trên bàn đánh về phía Mộng, M đưa tay phải lên đỡ thì lòng bàn tay giữa ngón cái và ngón trỏ tay phải bị thương, M đứng đối diện cách Tước 0,5m, tay trái M cầm chai bia bằng thủy tinh đánh từ trái qua phải trúng vào đầu T1 01 cái làm chai bia vỡ nát. G1 và Ư thấy T1 chảy máu đầu nên can ngăn Mộng dừng lại, T1 được người nhà chở đi Trung tâm y tế H và Bệnh viện C điều trị thương tích đến ngày 27/10/2023 tiếp tục điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh L đến ngày 30/10/2023 xuất viện. Ngày 31/10/2023. Nguyễn Tấn T1 làm đơn trình báo vụ việc yêu cầu xử lý hình sự Lê Hoàng M theo quy định pháp luật. Trong quá trình điều tra Mộng bỏ địa phương, không có mặt nơi đăng ký tạm trú, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B ra Quyết định truy tìm đến ngày 12/7/2024 Lê Hoàng M bị mời làm việc khai nhận hành vi phạm tội.

Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện B truy tìm vật chứng vụ án là mảnh vỡ chai bia, ly thủy tinh nhưng chủ quán là anh Phan Văn N thu dọn mảnh vỡ chai bia và ly thủy tinh nên không tìm thấy.

Tại Giấy chứng nhận thương tích số 56/CN ngày 06/11/2023 của Trung tâm y tế H: Tình trạng thương tích lúc vào viện: Tỉnh, sinh hiệu ổn. Vết thương thái dương phải dài 25cm, sâu tới xương sọ, đứt mạch máu. Tình trạng thương tích lúc ra viện: Băng vết thương chuyển Bệnh viện C.

Giấy chứng nhận thương tích Bệnh viện C số 1143/CN-BVCR ngày 08/11/2023. Tình trạng thương tích lúc vào viện: Bệnh nhân lơ mơ; Vết thương vùng thái dương phải, phức tạp dài 15cm; Không yếu chi

CT Scan sọ não: Không thấy máu tụ nội sọ. Đường giữa không di lệch. Não thất không bị chèn ép. Không thấy nứt sọ

CT Scan tầng trên ổ bụng: không phát hiện dịch, hơi tự do ổ bụng

Tình trạng thương tích lúc ra viện: Bệnh nhân tỉnh. Vết mổ khô

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 366/KLTTCT-TTPY ngày 27/11/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh L, kết luận:

Các kết quả chính: Sẹo vết thương thái dương phải kích thước lớn. Không dấu thần kinh khu trú

Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Tấn T1 tại thời điểm giám định là 03%.

Tại bản Cáo trạng số: 112/CT-VKSBL ngày 21 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B truy tố bị cáo Lê Hoàng M về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Hoàng M hoàn toàn nhìn nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện B truy tố, không đưa ra chứng cứ nào khác, xin, không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại về kết luận giám định, đồng thời không khiếu nại đối với Cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Viện Kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An tham gia phiên tòa vẫn giữ ý quan điểm như Cáo trạng đã truy tố bị cáo Lê Hoàng M về tội danh và điều luật, đồng thời phân tích đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng M phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 30, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Hoàng M từ 06 tháng đến 01 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ việc xảy ra, bị hại yêu cầu bị cáo M bồi thường chi phí điều trị thương tích và thu nhập thực tế bị mất, chi phí người nuôi bệnh, chi phí tổn thất tinh thần với số tiền 60.000.000 đồng, bị cáo M chưa bồi thường. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận buộc bị cáo M bồi thường các khoản cho bị hại gồm tiền thuốc theo hoá đơn 11.198.059 đồng, tiền công lao động 10.000.000 đồng, chi phí người nuôi bệnh 1.400.000đồng và một khoản tiền tổn thất tinh thần theo quy định pháp luật.

Đối với thương tích của Lê Hoàng M tại vị trí lòng bàn tay phải do Nguyễn Tấn T1 gây ra, M không yêu cầu xử lý nên không đề nghị xem xét.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, vắng mặt người làm chứng nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng Hình sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2]. Về nội dung: Lời khai nhận của bị cáo Lê Hoàng M tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng có mặt tại hiện trường, phù hợp với Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 366/KLTTCT-TTPY ngày 27/11/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh L của người bị hại Nguyễn Văn T2, bản ảnh xác định hiện trường và các chứng cứ khác mà cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Trên cơ sở đó có căn cứ xác định:

Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 25/10/2023, Lê Hoàng M, Đặng Tấn Ư, Hà Văn G1, Nguyễn Tấn T1 và P (chưa rõ lai lịch) uống bia tại quán A, địa chỉ Khu phố I, thị trấn B, huyện B. Trong lúc nhậu, M và T1 xảy ra mâu thuẫn, T1 dùng ly bia thủy tinh đánh M bị thương bàn tay, M liền cầm chai bia bằng thủy tinh đánh vào đầu T1 01 cái gây thương tích 03%.

Trên cơ sở đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận, bị cáo Lê Hoàng M đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích”. Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An truy tố bị cáo Lê Hoàng M với tình tiết định khung “Sử dụng hung khí nguy hiểm” theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3]. Hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo Lê Hoàng M gây ra là nguy hiểm. Hành vi này không những đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của bị hại Nguyễn Tấn T1 mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương. Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của bị cáo là nguy hiểm nhưng bị cáo bất chấp pháp luật thực hiện hành vi cố ý trực tiếp. Do đó, hành vi trái pháp luật của bị cáo cần xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra mới có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4]. Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4.1]. Xét về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4.2]. Xét về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Lê Hoàng M có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, phạm tội do một phần lỗi của bị hại nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5]. Xét đề nghị của Kiểm sát viên về hình phạt tù có thời hạn và mức hình phạt đối với bị cáo Lê Hoàng M là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[6]. Đối với thương tích của bị cáo Lê Hoàng M tại vị trí lòng bàn tay phải do Nguyễn Tấn T1 gây ra, bị cáo M không yêu cầu xử lý nên không đề cập đến.

[7]. Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện B truy tìm vật chứng vụ án là mảnh vỡ chai bia, ly thủy tinh nhưng chủ quán là anh Phan Văn N thu dọn mảnh vỡ chai bia và ly thủy tinh nhưng không tìm thấy nên không đề cập, xem xét.

[8]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Tấn T1 yêu cầu bị cáo Lê Hoàng M bồi thường các khoản. Gồm:

  • - Chi phí điều trị thương tích, tiền thuốc theo hóa đơn là 11.198.059 đồng
  • - Tiền mất thu nhập 10.000.000 đồng
  • - Chi phí người nuôi bệnh 1.400.000đồng
  • - Ngoài ra bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí tổn thất tinh thần theo quy định pháp luật.

Trước tòa bị cáo không đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại với lý do không có khả năng bồi thường.

Xét các khoản yêu cầu của bị hại là phù hợp theo quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 584, 590 của Bộ luật Dân sự nên buộc bị cáo Lê Hoàng M có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Nguyễn Tấn T1 tổng số tiền 27.598.000đ gồm chi phí điều trị 11.198.059 đồng, tiền mất thu nhập 10.000.000 đồng, chi phí người nuôi bệnh 1.400.000đồng, tổn thất tinh thần 5.000.000đồng.

[9]. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng M phạm tội “Cố ý gây thương tích ”.

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 134, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ Luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lê Hoàng M 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam ngày 30/7/2024

2. Căn cứ khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Lê Hoàng M 45 ngày kể từ ngày tuyên án (14/11/2024) để đảm bảo thi hành án.

3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 584, 590 của Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo Lê Hoàng M có trách nhiệm bồi thường chi phí điều trị, tiền mất thu nhập, tiền người nuôi bệnh và tổn thất tinh thần cho bị hại Nguyễn Tấn T1 số tiền 27.598.000đồng (hai mươi bảy triệu, năm trăm chín mươi tám ngàn đồng)

Khi án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, bên có nghĩa vụ chậm thi hành sẽ phải chịu thêm khoản tiền lãi tính trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 tương ứng với thời gian chưa thi hành án, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Lê Hoàng M phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.380.00đồng án phí dân sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.

5. Án xử sơ thẩm công khai. Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: bị cáo, bị hại có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án là 05 năm theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án."

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Long An;
  • - VKSND huyện B;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Bến Lức;B
  • - Chi cục thi hánh án dân sự huyện B;
  • - Sở tư pháp Hậu Giang;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Kim Thảnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 113/2024/HS-ST ngày 14/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LONG AN về hình sự sơ thẩm (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 113/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Hoàng M phạm tội “Cố ý gây thương tích ”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger