Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH VĨNH PHÚC

Bản án số: 113/2024/HS-ST

Ngày 13 tháng 11 năm 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn An và bà Đỗ Thị Kim Thúy.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Bích Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa:

Ông Vũ Văn Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Trại tạm giam Công an tỉnh V xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 88/2024/HS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 112/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn Q (tên gọi khác: không), sinh năm 1983 tại Y, Vĩnh Phúc; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Y, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; Đảng, đoàn thể: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Văn M và con bà Tô Thị V đều sinh năm 1964; có vợ là Nguyễn Thị L, sinh năm 198 và có 04 con (lớn sinh năm 2001, nhỏ sinh năm 2008); tiền án, tiền sự: Không.

Về nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2020/HS-ST ngày 16/6/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Giang, tỉnh Hà Giang xử phạt Nguyễn Văn Q 15 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Ngày 15/9/2020, Nguyễn Văn Q đã chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm, đến ngày 03/02/2021 Nguyễn Văn Q chấp hành xong hình phạt tù, đã được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/4/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh V, (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 22 giờ 25 phút ngày 01/4/2024, tại khu vực cửa ra vào nhà ở của Bùi Thị T tại thôn A xã Đ, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh V phát hiện bắt quả tang Bùi Thị T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Cơ quan điều tra đã thu giữ của Bùi Thị T 200g ma túy loại Methamphetamine. Ngày 02/4/2024, Cơ quan Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh V tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của T thu giữ 108,2436g ma tuý loại Methamphetamine và 96,3494g ma tuý loại Ketamine.

Sau khi bị bắt giữ, Bùi Thị T đã khai nhận toàn bộ số ma tuý Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh V thu giữ khi bị bắt quả tang và số ma túy thu giữ trong quá trình khám xét khẩn cấp chỗ ở của T đều là ma túy do T cất giấu mục đích bán kiếm lời và sử dụng cho bản thân. Quá trình điều tra Bùi Thị T khai nhận trước khi bị bắt giữ ngày 01/4/2024, Bùi Thị T đã bán ma túy cho một số người trong đó có Nguyễn Văn Q. Căn cứ lời khai của Bùi Thị T, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh V đã tiến hành xác minh, làm rõ hành vi của Nguyễn Văn Q như sau:

Do Nguyễn Văn Q và Bùi Thị T có quen biết nhau nên Q biết T có bán ma túy tổng hợp. Khoảng 18 giờ ngày 30/3/2024, Q đến nhà Bùi Thị T ở thôn A, xã Đ, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, đứng ngoài cửa gọi hỏi mua 01 túi ma túy đá với giá 200.000đ. T đồng ý và yêu cầu Q đứng trước cửa nhà rồi Q đưa cho T 200.000đ thì T cầm tiền, đưa 01 gói ma tuý đá cho Q qua khe cửa. Sau khi mua được ma túy Q đem ma túy về nhà ở thôn Y, xã Đ, huyện Y chia ra sử dụng một ít ma tuý, số ma túy còn lại chưa sử dụng Quyền mang cất giấu ở hốc mương nước gần nhà. Đến khoảng 06 giờ 30 phút ngày 11/4/2024, do có nhu cầu sử dụng ma tuý, Q đi bộ đến nơi cất giấu ma tuý đã mua của T từ hôm trước. Quyền lấy gói ma tuý giấu vào túi quần bên phải đang mặc rồi gọi xe taxi đi đến nhà nghỉ S thuộc tổ dân phố H, phường K, thành phố V để thuê phòng sử dụng ma tuý đá. Lúc Quyền đến cổng khu vực nhà nghỉ S vừa xuống xe thì bị cơ quan Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý triệu tập về trụ sở làm việc. Khi làm việc Q lấy từ trong túi quần bên phải của Q 01 túi nilon có 01 gói giấy bạc bên trong có chứa các hạt tinh thể dạng đá màu trắng giao nộp cho cơ quan điều tra. Q khai nhận đây là ma túy đá của Q cất giấu để sử dụng cho bản thân. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã niêm phong vật chứng trên vào trong một phong bì ký hiệu Q1. Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn tạm giữ của Q 01 cóong thuỷ tinh; 01 điện thoại di động đã cũ, đã qua sử dụng.

Tại bản kết luận giám định số 1039 ngày 16/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh V, kết luận: Tinh thể dạng đá màu trắng của mẫu Q1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,9753g, loại Methamphetamine.

Tại kết luận giám định số 1059 ngày 17/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh V, kết luận: Tìm thấy chất ma túy Methamphetamine trong mẫu nước tiểu của Nguyễn Văn Q.

Ngày 10/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh V đã ra Quyết định khởi tố bị can đối với Bùi Thị T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Hiện nay, Cơ quan điều tra đang tiếp tục điều tra đối với vụ án nêu trên.

Về xử lý vật chứng, đồ vật và tài sản:

  • - Đối với số ma túy còn lại do cơ quan giám định hoàn lại gồm: Mẫu ký hiệu Q1 là 0,8006 gam ma túy Methamphetamine và toàn bộ bao gói được niêm phong chung trong một bao gói giấy “MẪU TRẢ 937”.
  • - Đối với 01 coóng thủy tinh thu giữ của Nguyễn Văn Q. Kết quả điều tra xác định đây là công cụ của Q dùng để sử dụng ma túy.
  • - Đối với 01 diện thoại di động đã cũ, đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Văn Q. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản riêng của Q không liên quan đến hành vi phạm tội.
  • - Đối với các vật chứng, tài sản thu giữ của Bùi Thị T. Cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ và sẽ được giải quyết tiếp theo vụ án hình sự số 46 ngày 10/4/2024.

Tại Cáo trạng số 100/CT-VKS-P1 ngày 20 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố Nguyễn Văn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc luận tội đối với bị cáo Nguyễn Văn Q; giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và 01 bình cóong thủy tinh đã thu giữ; trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn Q 01 điện thoại di động vì không liên quan đến việc thực hiện tội phạm nhưng cần tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo do hiện nay bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản và thu nhập.

Bị cáo có quan điểm: Hoàn toàn nhất trí với tội danh và điều luật do Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về hình phạt bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quyết định mức án thấp nhất tạo điều kiện cải tạo nhanh chóng hòa nhập xã hội làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh V, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn Q đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, biên bản phạm pháp quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, các kết luận giám định của cơ quan chuyên môn... và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ cơ sở để xác định: Vào khoảng 06 giờ 30 phút ngày 11/4/2024, tại khu vực nhà nghỉ S thuộc tổ dân phố H, phường K, thành phố V, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh V phát hiện Nguyễn Văn Q có hành vi tàng trữ trái phép 01 túi nilon bên trong có chứa 0,9753g ma túy loại Methamphetamine. Quá trình điều tra Q khai nhận ma túy cất giữ Q mua của Bùi Thị T từ ngày 30/3/2024 mục đích để sử dụng cho bản thân.

[3]. Hành vi mua trái phép chất ma túy với mục đích sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ do bị cáo Nguyễn Văn Q thực hiện đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Căn cứ vào nhân thân của bị cáo, tính chất cũng như mức độ thực hiện tội phạm và trọng lượng ma túy thì hành vi của Nguyễn Văn Q đã phạm vào điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”

Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn Q là nghiêm trọng, đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Ma túy là tệ nạn xã hội làm ảnh hưởng xấu đến sức khỏe nhân phẩm của con người, dẫn con người đến đời sống đồi trụy, phá hoại hạnh phúc gia đình, làm xói mòn truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc. Đồng thời ma túy còn là nguyên nhân, nguồn gốc gây ra nhiều loại tệ nạn, nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác cho xã hội. Trước tình hình các tội phạm về ma túy hiện nay trong cả nước nói chung cũng như tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng xảy ra nhiều và ngày càng diễn biến phức tạp gây nhiều hậu quả xấu cho xã hội. Do vậy việc đưa bị cáo ra xét xử lưu động là cần thiết nhằm mục đích tuyên truyền, giáo dục pháp luật trong nhân dân và phục vụ tốt việc giữ vững an ninh chính trị tại địa phương.

Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng cân nhắc xem xét đến tính chất cũng như mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và hậu quả xảy ra, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy rằng:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn Q luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội đã thực hiện; bị cáo có ông N là Liệt sỹ nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Văn Q là người có nhân thân xấu do vào năm 2020 đã bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Giang, tỉnh Hà Giang xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nay lại phạm tội cùng loại. Mặc dù bị cáo đã chấp hành xong hình phạt của bản án trên, được xóa án nên không coi là tiền án để áp dụng tình tiết tăng nặng theo quy định của pháp luật, nhưng qua đó thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo chưa cao. Sau khi cân nhắc, xem xét các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất mức độ thực hiện tội phạm, trọng lượng ma túy và điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tù một thời gian phù hợp mới có tác dụng giáo dục riêng và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù trên mức khởi điểm do điều luật quy định là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật cần chấp nhận.

[4]. Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với số ma túy còn lại sau giám định được hoàn lại và toàn bộ bao gói được niêm phong cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 bình cóong thủy tinh đã thu giữ của Nguyễn Văn Q. Quá trình điều tra xác định đây là công cụ của Q dùng vào việc sử dụng ma túy không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 điện thoại di động đã thu giữ của Nguyễn Văn Q. Quá trình điều tra xác định vì không liên quan đến việc thực hiện tội phạm cần trả lại cho bị cáo là chủ sử hữu.
  • - Đối với các vật chứng, tài sản thu giữ của Bùi Thị T. Cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ được giải quyết khi xử lý Bùi Thị T là phù hợp.

[5]. Về việc áp dụng hình phạt bổ sung: Xuất phát từ mục đích tàng trữ chất ma túy do Nguyễn Văn Q thực hiện để sử dụng, vì điều kiện bị cáo hiện nay không có nghề nghiệp, không có tài sản nên Hội đồng xét xử miễn áp dụng hình phạt tiền là phù hợp.

[6]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn Q phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 02 (Hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt 11/4/2024.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

  • - Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định được hoàn lại mẫu ký hiệu Q1 là 0,8006 gam ma túy Methamphetamine và toàn bộ bao gói được niêm phong chung một bao gói giấy “MẪU TRẢ 937” vì là vật chứng của vụ án.
  • - Tịch thu tiêu hủy 01 bình cóong thủy tinh đã thu giữ của Nguyễn Văn Q do quá trình điều tra xác định đây là công cụ của Q dùng vào việc sử dụng ma túy không còn giá trị sử dụng.
  • - Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 plus màu vàng đã thu giữ của Nguyễn Văn Q do quá trình điều tra xác định vì không liên quan đến việc thực hiện tội phạm nhưng cần tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.

(Toàn bộ vật chứng tịch thu tiêu hủy và trả lại có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/10/2024 giữa Công an tỉnh V và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Phúc.)

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Văn Q phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh phúc;
  • - Phòng Hồ sơ - CA tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: Hồ sơ, Phòng HC-TP, Tòa Hình sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Duy Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 113/2024/HS-ST ngày 13/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 113/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Q phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger