|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 113/2024/HS-ST Ngày 12/11/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiên.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Kim Niệm;
- Ông Phạm Văn Trung.
Thư ký phiên toà: Ông Trương Thành Long - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Kim Thị Giàu - Kiểm sát viên
Ngày 12 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 99/2024/TLST - HS ngày 01 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 118/2024/QĐXXST - HS ngày 29 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Phạm Minh N, sinh năm 1975 tại Bình Dương; nơi cư trú: Tổ A, ấp E, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; cha không rõ họ tên và mẹ bà Phạm Thị Đ, sinh năm 1954; bị cáo có vợ tên Võ Thị H, sinh năm 1978; có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 2007; tiền án: Không; tiền sự: Không.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 19/7/2024 cho đến nay.
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Họ và tên: Đặng Văn T, sinh năm 1964 tại Bình Dương; nơi cư trú: Ấp E, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ văn hoá: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn C, sinh năm 1932 (đã chết) và bà Võ Thị V, sinh năm 1932 (đã chết); bị cáo có vợ tên Trương Thị L, sinh năm 1972 (không đăng ký kết hôn), có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2012. Tiền sự: Không. Tiền án: có 01 tiền án:
Ngày 30/3/2022, bị Toà án nhân dân huyện Phú Giáo xử phạt Đặng Văn T 03 năm tù về tội đánh bạc quy định tại khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự. Bị cáo Đặng Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, ngày 28/9/2022 Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xử phạt Đặng Văn T 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 (ba) năm về tội “Đánh bạc” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 28/9/2022, Trong thời gian thử thách án treo T tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội đánh bạc vào ngày 16/7/2024. Bị cáo T đã nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng vào ngày 22/11/2022.
Bị cáo Đặng Văn T đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/7/2024 đến nay tại nhà tạm giữ Công an huyện P.
- Họ và tên: Võ Văn Đ1, sinh năm 1989 tại Tây Ninh; nơi cư trú: Xã L, huyện D, tỉnh Tây Ninh; nơi ở: Nhà trọ Nguyễn Tiến H1, số D, đường I, tổ A, khu B, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn T1, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1963; bị cáo có vợ tên Phan Hồng T2, sinh năm 1994, có 02 người con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2018, tiền án: Không; tiền sự: Không.
Về nhân thân: Ngày 22/4/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh xử phạt 06 tháng tù về tội Đánh bạc quy định tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự tại bản án số 34/2011/HSST. Chấp hành án phạt tù tại Trại tạm giam Công an tỉnh T, chấp hành xong ngày 19/7/2011, ngày 01/3/2012, Võ Văn Đ1 đã nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (đã xóa án tích).
Bị cáo Võ Văn Đ1 đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 19/7/2024 cho đến nay.
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Họ và tên: Nguyễn Trung H3, sinh năm 1975 tại Bình Dương; nơi cư trú: Số B, đường I, tổ A, khu phố B, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Giáo viên; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N1, sinh năm 1946 (đã chết) và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1945; bị cáo có vợ tên Dương Thị Diễm C1, sinh năm 1975, có 02 người con, lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2007; tiền án: Không; tiền sự: Không.
Bị cáo Nguyễn Trung H3 đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 19/7/2024 cho đến nay.
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Bà Trương Thị L, sinh năm 1972;
Nơi cư trú: Ấp E, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 16/7/2024, Phạm Minh N điều khiển xe mô tô biển số 93P1-042.55 đến số nhà A ở đường A, ấp B, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương để viếng đám tang. Tại đây, N gặp Đặng Văn T, N lấy bộ lắc tài xỉu và cái đĩa bằng sứ màu trắng của N mang theo rủ T đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức lắc tài xỉu mỗi ván từ 50.000 đồng đến 200.000 đồng, T đồng ý. Nhu làm cái, còn T là người đặt cược, sau đó Võ Văn Đ1, Nguyễn Trung H3 vào tham gia đánh bạc thắng thua bằng tiền cùng với N và T.
Hình thức đánh bạc lắc tài xỉu như sau: Phạm Minh N lấy 01 nắp nhựa màu xanh, ba hột xí ngầu đỏ - đen và 01 cái đĩa bằng sứ màu trắng, N bỏ 03 hột xí ngầu lên cái đĩa rồi dùng cái nắp nhựa màu xanh đậy lại và lắc đều ba hột xí ngầu rồi đặt đĩa lên trên bàn để cho các con bạc đặt tiền cá cược theo bên tài hoặc bên xỉu tùy ý, quy ước phía bên tay phải của N là “ tài”, tay trái là “ xỉu”, mỗi ván mỗi con bạc đặt cược với số tiền thấp nhất là 50.000 đồng, cao nhất là 200.000 đồng. Sau khi các con bạc đặt tiền xong thì bị can N mở nắp ra tính số chấm trên 03 mặt ngửa của 03 hột xí ngầu để tính thắng thua. Cộng số chấm mặt trên của 03 hột xí ngầu lại, nếu tổng số chấm từ 01 đến 10 điểm trở xuống là xỉu, 11 điểm đến 18 điểm là tài. Nếu con bạc đặt cửa tài mà kết quả là xỉu thì con bạc thua và phải đưa cho N số tiền mà con bạc đã đặt, còn nếu kết quả là xỉu thì con bạc thắng thì được N2 (đưa) lại số tiền bằng với số tiền mà con bạc đã đặt và ngược lại. Kết thúc mỗi ván, bị cáo N sẽ lắc đĩa để chơi lại ván khác. Đến 00 giờ 30 phút cùng ngày bị Công an xã A phát hiện bắt quả tang.
Tang vật thu giữ gồm:
- Số tiền 14.800.000 đồng trên chiếu bạc;
- 01 (một) bộ lắc tài xỉu (01 nắp bằng nhựa trụ tròn màu xanh được quấn băng keo màu đen, 01 đĩa bằng sứ màu trắng, 09 hột lắc xí ngầu đã qua sử dụng);
- Thu giữ của Võ Văn Đ1 6.000.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Nokia 110 màu đen đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno 7 màu vàng đã qua sử dụng; 01 căn cước công dân mang tên Võ Văn Đ1;
- Thu giữ của Đặng Văn T số tiền 7.000.000 đồng;
- Thu giữ của Phạm Minh N 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A13, màu đen đã qua sử dụng; 01(một) xe mô tô hiệu Honda Wave, màu xanh, biển số 93P1-04255 đã qua sử dụng, 01 căn cước công dân mang tên Phạm Minh N;
- 01 (một) điện thoại di động hiệu iPhone 12 Promax, màu xanh đã qua sử dụng, 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Trung H3.
Qua điều tra xác định các con bạc mang theo số tiền dùng để đánh bạc như sau:
- Phạm Minh N mang theo số tiền 8.000.000 đồng sử dụng vào mục đích để đánh bạc, quá trình tham gia đánh bạc N là người làm cái, khi công an phát hiện bắt quả tang N bỏ số tiền 8.000.000 đồng ra chiếu bạc;
- Nguyễn Trung H3 mang theo số tiền 900.000 đồng sử dụng hết vào mục đích để đánh bạc. Khi tham gia đánh bạc H3 không thắng không thua, khi Công an phát hiện bắt quả tang H3 bỏ số tiền 900.000 đồng ra chiếu bạc.
- Võ Văn Đ1 mang theo số tiền 9.000.000 đồng, khi tham gia đánh bạc Đ1 sử dụng 3.000.000 đồng vào mục đích đánh bạc, Đ1 thua 100.000 đồng, khi Công an phát hiện bắt quả tang Đ1 bỏ số tiền 2.900.000 đồng ra chiếu bạc, thu giữ trên người của Võ Văn Đ1 số tiền 6.000.000 đồng.
- Đặng Văn T mang theo số tiền 9.900.000 đồng. Khi tham gia đánh bạc T sử dụng số tiền 2.900.000 đồng vào mục đích đánh bạc, T thắng được 100.000 đồng. Khi công an phát hiện bắt quả tang T bỏ số tiền 3.000.000 đồng ra chiếu bạc, thu giữ trên người của Đặng Văn T số tiền 7.000.000 đồng.
Như vậy, tổng số tiền các bị cáo Phạm Minh N, Nguyễn Trung H3, Võ Văn Đ1, Đặng Văn T sử dụng vào mục đích để đánh bạc là 14.800.000 đồng (mười bốn triệu tám trăm nghìn đồng).
Tại Bản cáo trạng số 102/CT-VKSPG ngày 30/9/2024 truy tố các bị cáo Phạm Minh N, Nguyễn Trung H3, Võ Văn Đ1, Đặng Văn T về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo Phạm Minh N, Nguyễn Trung H3, Võ Văn Đ1, Đặng Văn T trình bày: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 16/7/2024, tại số nhà A ở đường A, ấp B, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương, Phạm Minh N, Nguyễn Trung H3, Võ Văn Đ1, Đặng Văn T đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức chơi lắc tài xỉu với tổng số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 14.800.000 đồng (mười bốn triệu tám trăm nghìn đồng) thì bị lực lượng Công an xã A phát hiện bắt quả tang.
Đại diện Viện Kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu lời luận tội đối với các bị cáo và giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố các bị cáo Phạm Minh N, Nguyễn Trung H3, Võ Văn Đ1, Đặng Văn T phạm tội “Đánh bạc” và đề nghị HĐXX:
- Áp dụng khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Minh N số tiền từ 30.000.000đ đến 35.000.000đ.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trung H3 số tiền từ 20.000.000đ đến 25.000.000đ.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Võ Văn Đ1 số tiền từ 25.000.000đ đến 30.000.000đ.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Văn T từ 08 tháng tù đến 10 tháng tù. Tổng hợp hình phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù của Bản án số 246/2022/HS-PT ngày 28/9/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương. Buộc bị cáo Đặng Văn T phải chấp hành hình phạt chung của hai Bản án là 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 17/7/2024.
Về hình phạt bổ sung: Không
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị HĐXX tuyên:
- Sung vào ngân sách Nhà nước: 14.800.000 đồng (mười bốn triệu tám trăm nghìn đồng).
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bộ lắc tài xỉu gồm: 01 nắp bằng nhựa trụ tròn màu xanh được quấn băng keo màu đen; 01 đĩa bằng sứ màu trắng; 09 hột lắc xí ngầu đã qua sử dụng.
Trong phần tranh luận các bị cáo Phạm Minh N, Nguyễn Trung H3, Võ Văn Đ1, Đặng Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thống nhất tội danh, mức hình phạt, không tranh luận gì thêm.
Lời nói sau cùng của các bị cáo Phạm Minh N, Nguyễn Trung H3, Võ Văn Đ1, Đặng Văn T: Các bị cáo biết hành vi của mình là sai trái, các bị cáo ăn năn hối cải nên đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, tỉnh Bình Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Nội dung vụ án:
Tại phiên tòa, các bị cáo Phạm Minh N, Nguyễn Trung H3, Võ Văn Đ1, Đặng Văn T khai nhận hành vi phạm tội như sau: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 16/7/2024, tại số nhà A ở đường A, ấp B, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương, Phạm Minh N, Nguyễn Trung H3, Võ Văn Đ1, Đặng Văn T đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức chơi lắc tài xỉu với tổng số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 14.800.000 đồng (mười bốn triệu tám trăm nghìn đồng).
[3] Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, tang vật của vụ án và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở kết luận các bị cáo Phạm Minh N, Nguyễn Trung H3, Võ Văn Đ1, Đặng Văn T phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Như vậy, Cáo trạng số 102/CT-VKSPG ngày 30/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Các bị cáo đủ tuổi, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 của Bộ luật Hình sự.
Về nhận thức, các bị cáo biết hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Tổng số tiền dùng để đánh bạc của các bị cáo Phạm Minh N, Nguyễn Trung H3, Võ Văn Đ1, Đặng Văn T là 14.800.000 đồng. Do đó, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố.
Hành vi đánh bạc là một tệ nạn xã hội, xâm phạm đến trật tự nếp sống văn minh của xã hội. Bản thân các bị cáo là những người có sức khoẻ, có gia đình và công việc ổn định, lẽ ra các bị cáo phải biết chăm lo làm ăn nuôi sống bản thân và gia đình nhưng các bị cáo lại phạm tội. Hành vi của các bị cáo không những ảnh hưởng đến an ninh trật tự ở địa phương mà còn là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. HĐXX xét thấy, đây là vụ án có đồng phạm giản đơn, bị cáo N phạm tội với vai trò là chủ mưu, các bị cáo khác vào tham gia đánh bạc với vai trò là người thực hành tích cực.
Vì vậy, HĐXX thấy cần áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi của các bị cáo mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục đối với các bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.
[4] Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo như sau:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Các bị cáo N, H3, Đ1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Đối với bị cáo T phạm tội trong thời gian thử thách về tội đánh bạc nhưng lại phạm tội mới nên thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo N, H3 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Đ1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Đặng Văn T bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội đánh bạc, đang trong thời gian thử thách bị cáo lại phạm tội mới, bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm mà lại phạm tội mới nên bị cáo phải chấp hành bản án phạm tội mới và bản án đã cho hưởng án treo. Tuy nhiên, bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, HĐXX quyết định cách ly bị cáo T ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ sức giáo dục răn đe các bị cáo và nêu gương phòng ngừa chung trong xã hội.
Xét thấy, các bị cáo N, Đ1, H3 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Các bị cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, ngoài ra, các bị cáo có khả năng tự cải tạo, việc không bắt các bị cáo đi chấp hành hình phạt tù không gây nguy hiểm cho xã hội, không gây ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm nên HĐXX quyết định xử phạt các bị cáo hình phạt tiền là hình phạt chính cũng đủ giáo dục răn đe các bị cáo.
[5] Xét mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với các bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo nên HĐXX chấp nhận
[6] Ý kiến, lời nói sau cùng của các bị cáo về tội danh, về hình phạt là phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.
[7] Về hình phạt bổ sung: Xét điều kiện, nhân thân của các bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[8] Về việc xử lý vật chứng:
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A13, màu đen đã qua sử dụng; 01 xe mô tô hiệu Honda Wave, màu xanh, biển số 93P1-04255 đã qua sử dụng, 01 căn cước công dân mang tên Phạm Minh N. Đây là tài sản của N không sử dụng vào mục đích phạm tội. Ngày 03/9/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện P đã ra quyết định trả lại tài sản trên cho bị cáo N, N nhận lại tài sản và không có ý kiến gì nên HĐXX không đề cập đến;
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia 110 màu đen đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu OPPO Reno 7 màu vàng đã qua sử dụng, 01 căn cước công dân mang tên Võ Văn Đ1, số tiền 6.000.000 đồng thu giữ của Võ Văn Đ1 dùng để mua đồ sinh hoạt gia đình, Đ1 không sử dụng vào mục đích đánh bạc. Ngày 03/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã ra quyết định trả lại tài sản trên cho bị cáo Đ1, Đ1 nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên HĐXX không đề cập đến;
- Số tiền 7.000.000 đồng thu giữ của bị cáo Đặng Văn T là tiền của Trương Thị L (vợ của bị cáo T) đưa cho T để mua xe đạp điện cho con trai Đặng Thanh B đi học, T không sử dụng vào mục đích đánh bạc. Ngày 03/9/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P đã ra quyết định trả lại tài sản trên cho bị cáo T, T nhận lại và không có ý kiến gì nên HĐXX không đề cập đến.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu iPhone 12 Promax, màu xanh đã qua sử dụng, 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Trung H3. Đây là tài sản bị cáo H3 không sử dụng vào mục đích phạm tội. Ngày 03/9/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P đã ra quyết định trả lại tài sản trên cho Nguyễn Trung H3, H3 nhận lại tài sản và không có ý kiến gì nên HĐXX không đề cập đến.
- 01 bộ lắc tài xỉu gồm: 01 nắp bằng nhựa trụ tròn màu xanh được quấn băng keo màu đen; 01 đĩa bằng sứ màu trắng; 09 hột lắc xí ngầu đã qua sử dụng. Đây là công cụ dùng vào việc phạm tội nên HĐXX xét cần tịch thu tiêu huỷ.
- Số tiền 14.800.000 đồng (mười bốn triệu tám trăm nghìn đồng) thu tại chiếu bạc và thu giữ trên người các bị cáo, đây là tiền các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên HĐXX xét thấy cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Phạm Minh N, Nguyễn Trung H3, Võ Văn Đ1, Đặng Văn T phạm tội “Đánh bạc”.
- Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:
- Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1, Điều 52, Điều 17, Điều 38, Điều 56, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Đặng Văn T 10 (mười) tháng tù.
Tổng hợp hình phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù của Bản án số 246/2022/HS-PT ngày 28/9/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương
Buộc bị cáo Đặng Văn T phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 17/7/2024.
- Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1, Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Phạm Minh N số tiền 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng).
- Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung H3 số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng).
- Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Võ Văn Đ1 số tiền 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng).
- Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1, Điều 52, Điều 17, Điều 38, Điều 56, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên:
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: Số tiền 14.800.000 đồng (mười bốn triệu tám trăm nghìn đồng).
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) bộ lắc tài xỉu gồm: 01 nắp bằng nhựa trụ tròn màu xanh được quấn băng keo màu đen; 01 đĩa bằng sứ màu trắng; 09 hột lắc xí ngầu đã qua sử dụng.
(Theo giấy nộp tiền vào tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo ngày 01/10/2024 và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/10/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện P với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo).
- Về án phí hình sự sơ thẩm:
Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án:
Buộc các bị cáo Phạm Minh N, Nguyễn Trung H3, Võ Văn Đ1, Đặng Văn T mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (12/11/2024).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hiên |
Bản án số 113/2024/HS-ST ngày 12/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG về đánh bạc
- Số bản án: 113/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Minh Nh cùng đồng phạm đánh bạc
