Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẠI TỪ

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 113/2024/HSST

Ngày: 04 - 11 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Việt Dũng và ông Phạm Xuân Khoa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Thúy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ tham gia phiên toà: Bà Chu Thanh Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 11 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, tiến hành xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 111/2024/TLST-HS ngày 18/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 114/2024/QĐXX ngày 21/10/2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Hữu T; tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam.

Sinh năm 1995;

ĐKHK: Thôn X, xã X, huyện S, Tp Hà Nội.

Nơi cư trú: TDP G, phường Đ, TP P, tỉnh Thái Nguyên. Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không. Trình độ văn hóa: 6/12; nghề nghiệp: Không. Con ông: Nguyễn Hữu K, sinh năm 1960; con bà: Quách Thị T1; Sinh năm: 1960 (Đã chết). Bị cáo có 03 anh em, T là con thứ ba. Chưa có vợ, con.

Tiền án:

  • + Bản án số 28/2016/HSST ngày 21/4/2016 của TAND huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xử phạt T 20 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Đã chấp hành xong hình phạt tù, chấp hành xong án phí hình sự, án phí dân sự ngày 09/6/2016; chưa thi hành khoản tiền bồi thường 14.000.000đ cho bị hại.
  • + Bản án số 132/2016/HSST ngày 27/7/2016 của TAND thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh xử phạt Thái 10 tháng tù giam, về tội trộm cắp tài sản. Tổng hợp hình phạt với Bản án số 28/2016/HSST ngày 21/4/2016 của TAND huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, Bị cáo chấp hành chung cho hai bản án là 30 tháng tù giam (T đã hấp hành xong hình phạt tù ngày 24/01/2018; chưa chấp hành nộp khoản tiền bồi thường dân sự 6.800.000đ cho bị hại trong vụ án).
  • + Bản án số 127/2018/HSST ngày 28/8/2018 của TAND huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xử phạt T 18 tháng tù giam về tội trộm cắp tài sản (Chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/10/2019; phần dân sự bồi thường thiệt hại do bị hại chưa có đơn yêu cầu bồi thường nên Chi cục Thi hành án Yên Phong chưa thụ lý thi hành).
  • + Bản án số 77/2021/HSST ngày 08/9/2021 của TAND huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt T 03 năm tù giam về tội trộm cắp tài sản (Chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/02/2024, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm – chưa được xóa án).

Tiền sự: Không.

- Nhân thân:

  • + Tại QĐ áp dụng biện pháp đưa vào trường G1, ngày 17/7/2008 của chủ tịch UBND huyện S, TP Hà Nội đối với T, thời gian chấp hành 12 tháng về hành vi vi phạm “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong Quyết định ngày 23/7/2009, tại Giấy chứng nhận số 328, ngày 23/7/2009 của Trường G2;
  • + QĐ xử phạt vi phạm hành chính số 506001, ngày 31/8/2016 của Công an thị xã S xử phạt Thái 200.000 đồng về Hành vi “Gây rối trật tự công cộng”.

Biện pháp ngăn chặn: Nguyễn Hữu T bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/6/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh T.

(Có mặt tại phiên toà).

2. Bùi Văn H; tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Sinh năm 1996;

Nơi cư trú: Thôn Đ, xã B, huyện S, TP Hà Nội.

Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không nghề; Trình độ văn hoá: 04/12. Con ông: Bùi Văn B, sinh năm 1972. Hiện trú tại Thôn Đ, xã B, huyện S, TP Hà Nội. Con bà: Đỗ Thị T2, sinh năm 1973 (Đã chết). Vợ, con: Chưa có. Bị cáo có 03 anh em. H là con thứ nhất trong gia đình.

Tiền án: 01.

  • + Bản án số 167/2015/HSST ngày 14/10/2015 của TAND huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội xử phạt H 07 năm 06 tháng tù giam về tội “Cướp tài sản”. Tổng hợp hình phạt với Bản án số 130/2015/HSST ngày 28/8/2015 của TAND huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội, Bị cáo chấp hành chung cho hai bản án là 08 năm 02 tháng tù giam (Chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/11/2021, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 14/10/2015, chấp hành xong án phí dân sự ngày 18/12/2015, đối với khoản tiền bồi thường do không có đơn yêu cầu bồi thường của bị hại nên chưa thụ lý thi hành). Chưa được xóa án theo quy định.

Tiền sự: Không.

- Nhân thân:

Tại Bản án số 130/2015/HSST ngày 28/8/2015 của TAND huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội xử phạt H 08 tháng tù giam về tội trộm cắp tài sản (Chấp hành xong bản án ngày 10/3/2016).

Biện pháp ngăn chặn: Bùi Văn H bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/6/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.

- Người bị hại:

  1. Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1982; (Có mặt).
  2. Nơi cư trú: Xóm D, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

  3. Ông Quyền Đình G, sinh năm 1975; (Có mặt).
  4. Nơi cư trú: TDP Khu Vực N, thị trấn Q, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

  5. Anh Phạm Mạnh H1, sinh năm 1987;
  6. Nơi cư trú: TDP T, thị trấn Q, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

  7. Ông Chu Văn S, sinh năm 1960;
  8. Nơi cư trú: Xóm D, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên

(Ông S, anh H1 đều có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 45 phút, ngày 28/6/2024, Công an thị trấn Q, huyện Đ nhận được tin báo của công dân Lê Mạnh T3 về việc phát hiện hai đối tượng đi trên chiếc xe mô tô có đặc điểm giống đối tượng đã thực hiện hành vi trộm cắp xe mô tô tại xã V, huyện Đ. Nhận được tin báo, Công an thị trấn Q đã tổ chức lực lượng tuần tra trên đường tỉnh lộ 261 đã phát hiện 02 nam thanh niên có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Khi được kiểm tra, hai nam thanh niên khai tên là Nguyễn Hữu T và Bùi Văn H vừa thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe mô tô Honda, màu xanh gắn BKS 20D1 - 122.27 trên địa bàn huyện Đ, đồng thời khai nhận trong khoảng thời gian tháng 6/2024, đến ngày 28/6/2024 T và H đã bốn lần trộm cắp tài sản là xe mô tô tại địa bàn các xã, thị trấn của huyện Đ, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất:

Khoảng 05 giờ 00 phút, ngày 22/06/2024, T mang theo 01 vam phá khóa bằng kim loại, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wawe màu trắng, gắn BKS: 99F1 - 193.63 (đăng ký xe tên Nguyễn Văn N, trú tại thôn Đ, xã N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh, là xe của T đã mua và thanh toán tiền) chở H đi từ phòng trọ của T tại thành phố P, đi theo đường tỉnh lộ 261, đến địa bàn huyện Đ để trộm cắp xe mô tô. Khoảng 05 giờ 40 phút cùng ngày, H và T đi đến đường bê tông đoạn thuộc xóm E, xã V, huyện Đ, cả hai quan sát thấy có 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda wave, màu đen-bạc, BKS: 20F1-143.73 (sau xác định của chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1982, trú tại xóm D, xã V, huyện Đ) dựng ở rìa đường bên phải hướng K - V không có ai trong coi, T sử dụng chiếc van phá khóa để phá ổ khóa xe, còn H ngồi trên xe mô tô BKS: 99F1 - 193.63 cảnh giới. Sau khi phá được ổ khóa, T nổ máy điều khiển chiếc xe mô tô BKS: 20F1-143.73 đi về hướng thành phố P. Khi đến địa phận thị trấn Q, huyện Đ, T và H thấy có 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu nâu, BKS: 20R1- 4059 (Sau xác định của anh Quyền Đình G, sinh năm 1975, trú tại TDP Khu vực Nhà máy, thị trấn Q, huyện Đ) dựng trước cổng nhà, ngay sát mặt đường TL261, không thấy có người trông coi nên T và H đã bàn bạc mang chiếc xe mô tô BKS: 20F1- 143.73 vừa trộm cắp tại xã V, huyện Đ đi cất giấu tại một ngôi nhà hoang ở ven đường khu vực thành phố P, rồi quay lại trộm cắp chiếc xe mô tô Honda Dream BKS: 20R1-4059 ở thị trấn Q, huyện Đ.

Vụ thứ hai:

Khoảng 06 giờ 45 phút, ngày 22/6/2024, khi T và H quay lại tới khu vực thị trấn Q, huyện Đ, thấy chiếc xe mô tô BKS: 20R1- 4059 vẫn dựng ở cổng. Quan sát thấy không có ai quản lý, T quay đầu xe lại và đỗ bên đường đối diện cổng nhà anh G, H ngồi trên xe mô tô cảnh giới, T đến gần chiếc xe mô tô BKS: 20R1- 4059 thì thấy xe không khóa cổ nên T dắt chiếc xe này sang bên đường, H điều khiển chiếc xe Honda Dream BKS: 99F1 - 193.63, T ngồi sau dùng chân đẩy xe mô tô BKS: 20R1- 4059 đi về hướng TP P. Khi đến địa phận Phố N, huyện S, TP Hà Nội, T và H dừng lại một quán hàng rong để đánh chìa khóa xe mô tô. Sau khi đánh được chìa khóa xe, T mở cốp xe mô tô BKS: 20R1- 4059 kiểm tra thì thấy có giấy đăng ký chiếc xe trên, T để chiếc xe mô tô BKS: 20R1- 4059 tại rìa đường C, huyện S, TP Hà Nội rồi T và H đèo nhau quay lại ngôi nhà hoang ở ven đường khu vực TP ., lấy chiếc xe mô tô BKS: 20F1- 143.73 đem đi bán, H và T đã bán chiếc xe mô tô BKS: 20F1-143.73 cho một người đàn ông tên là Q, khoảng 35 tuổi, nhà ở Bắc Giang (không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể) với giá 5.500.000 đồng. Sau khi bán được xe mô tô, T và H quay lại khu vực Phố N lấy chiếc xe mô tô BKS: 20R1- 4059 sử dụng. Khoảng 03 ngày sau, H đã bán chiếc xe này cho người đàn ông không quen biết tại TP . được số tiền là 5.000.000 đồng, số tiền này H và T đã cùng chi tiêu cá nhân hết.

Vụ thứ ba:

Khoảng 14 giờ 15 phút, ngày 27/6/2024, T điều khiển xe mô tô BKS: 99F1 - 193.63 chở H đến địa phận TDP 4, TT Q, huyện Đ, cả hai nhìn thấy 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda wave, màu xanh, BKS: 20AE - 048.80 (sau xác định của anh Phạm Mạnh H1, sinh năm 1987, trú tại TDP T, TT Q, huyện Đ) dựng ở rìa đường (trước cửa nhà anh Nguyễn Văn T4, sinh năm 1973, trú tại TDP D, TT Q, huyện Đ). Quan sát thấy không có ai trông coi, H ngồi trên xe cảnh giới, T đến gần xe mô tô thì nhìn thấy chìa khoá điện vẫn cắm ở ổ khóa, T nổ máy điều khiển xe mô tô BKS: 20AE - 048.80 đi về phòng trọ của T tại TDP T, phường T, TP . chờ đem đi tiêu thụ. Khi về phòng trọ, T đã tháo BKS: 20AE - 048.80 gắn vào chiếc xe Honda wawe màu trắng gắn BKS: 99F1 - 193.63 của T để ngụy trang, còn BKS: 99F1 - 193.63 xe của T thì gắn vào chiếc xe Honda wave màu xanh vừa trộm cắp được tại TDP D, TT Q, huyện Đ.

Vụ thứ tư:

Khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 28/6/2024, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda wave màu trắng, gắn BKS: 20AE-048.80 chở H đến khu vực đền L thuộc xóm D, xã V, huyện Đ thì thấy 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda wave, màu xanh-đen-bạc, BKS: 20D1-12227 (sau xác định của ông Chu Văn S, sinh năm 1961, trú tại xóm D, xã V, huyện Đ) để ở cạnh đền không có ai trông coi, H ngồi ở xe cảnh giới, T cầm theo vam phá khóa để phá ổ khóa xe. Sau khi phá được ổ khóa xe, T điều khiển xe mô tô BKS: 20D1-12227 về hướng TP . Khi T và H đi đến địa phận TDP Đ, TT Q, huyện Đ thì bị Công an T, huyện Đ kiểm tra, T và H đã khai nhận hành vi trộm cắp chiếc xe mô tô BKS: 20D1- 12227 tại xã V, huyện Đ nêu trên. Công an T đã tạm giữ: 01 vam phá khóa; 01 balo; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda wave màu trắng, gắn BKS: 20AE-40880 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda wave, màu xanh-đen-bạc, BKS: 20D1-12227.

Về phía ông Chu Văn S, bà Nguyễn Thị M, anh Phạm Mạnh H1, ông Quyền Đình G sau khi phát hiện bị mất xe mô tô đã làm đơn trình báo Cơ quan công an đề nghị giải quyết. Quá trình điều tra truy xét, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã xác định Nguyễn Hữu T, Bùi Văn H là người trộm cắp tài sản của ông S, bà M, anh H1, ông G. Tại cơ quan điều tra T và H đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình, đồng thời T tự nguyện giao nộp 01 ĐTDĐ nhãn hiệu iphone 6 plus niêm phong trong phong bì kí hiệu T1; H giao nộp 01 ĐTDĐ nhãn hiệu OPPO A54, màu xanh niêm phong trong phong bì kí hiệu H1.

Cơ quan CSĐT đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, quá trình khám xét người, chỗ ở, địa điểm tại phòng trọ của T ở TDP T, phường T, TP ., tỉnh Thái Nguyên phát hiện, thu giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda wave, màu xanh, gắn BKS: 99F1-193.63, số khung:RLHJA3937PY081171, số máy: JA70E-0110460. Chiếc xe này T khai mua của người không quen số tiền 4.300.000đ làm phương tiện đi lại và thực hiện trộm cắp các vụ án trên địa bàn huyện Đ.

Tiến hành khám xét người, chỗ ở, địa điểm, phương tiện tại thôn Đ, xã B, huyện S, TP . đối với Bùi Văn H, kết quả không thu giữ tài sản gì.

Để có căn cứ xác định giá trị thiệt hại tài sản bị chiếm đoạt, ngày 03/7/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã ra Yêu cầu định giá tài sản số: 2089/CSĐT của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự huyện Đ đối với số vật chứng do theo thông tin do Nguyễn Hữu T và Bùi Văn H đã chiếm đoạt của những người bị hại trên địa bàn huyện Đ.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 28/KL-HĐĐGTS ngày 09/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận:

  • + Giá trị của một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh đen bạc, BKS 20D1- 122.27 (chủ sử dụng là ông Chu Văn S) mua cũ ngày 15/8/2023, tại thời điểm định giá tháng 6/2024 có giá là 8.500.000 đồng.
  • + Giá trị của một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen bạc, BKS 20F1- 143.73 (chủ sử dụng là chị Nguyễn Thị M) mua cũ năm 2019, tại thời điểm định giá tháng 6/2024 có giá là 8.000.000 đồng.
  • + Giá trị của một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu nâu, BKS 20R1- 4059 (chủ sử dụng là anh Quyền Đình G) mua cũ năm 2013, tại thời điểm định giá tháng 6/2024 có giá là 10.000.000 đồng.
  • + Giá trị của một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh đen, BKS 20AE- 048.80 (chủ sử dụng là anh Phạm Mạnh H1) mua mới tháng 6/2024, tại thời điểm định giá tháng 6/2024 có giá là 12.000.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản 04 chiếc xe do H và T chiếm đoạt của những người bị hại là là 38.500.000 đ (Ba mươi tám triệu năm trăm ngàn đồng).

Vật chứng của vụ án:

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda wave, màu xanh-đen-bạc, BKS: 20D1-12227 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda wave, màu xanh, BKS: 20AE - 048.80, ngày 25/9/2024, cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã trả lại cho ông Chu Văn S, anh Phạm Mạnh H1 quản lý, sử dụng.

Tiến hành thu giữ chuyển Chi cục Thi hành án đân sự huyện Đ để chờ xử lý khi xet xử vụ án gồm: 01 van phá khóa bằng kim loại; 01 ĐTDĐ nhãn hiệu OPPO A54 niêm phong vào phong bì kí hiệu H1 (Điện thoại của Bùi Văn H); 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 6 plus niêm phong vào phong bì kí hiệu T1 (Điện thoại của Nguyễn Hữu T); 01 ba lô màu xanh, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, số khung RLHJA3921MY070864, số máy JA39E2188161 (xe của Nguyễn Hữu T); 01 BKS 99F1-193.63;

Về trách nhiệm dân sự:

Đối với chiếc xe máy của chị Nguyễn Thị M, T và H đã bán không thu hồi lại được, chị M yêu cầu T, H bồi thường giá trị xe số tiền 20.000.000 đồng; Đối với chiếc xe mô tô của anh Quyền Đình G cũng không thu hồi được, anh G yêu cầu bồi thường số tiền 20.000.000 đồng. Nguyễn Hữu T, Bùi Văn H chưa bồi thường được cho ai.

Đối với xe mô tô của anh Phạm Mạnh H1 và ông Chu Văn S, sau khi nhận lại tài sản bị chiếm đoạt cả hai không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự.

Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số: 111/CT - VKSĐT ngày 14/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ đã truy tố Nguyễn Hữu T tội: “Trộm cắp tài sản”, theo điểm b, g, khoản 2, Điều 173 Bộ luật hình sự. Truy tố Bùi Văn H về tội: “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:

Với tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa thể hiện hành vi của của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là “Thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T và H phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo H phải chịu thêm 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: các bị cáo Nguyễn Hữu T, Bùi Văn H đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

* Hình phạt chính:

- Đề nghị áp dụng điểm b, g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 (phạm tội 02 lần trở lên), Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật hình sự:

Xử phạt: Nguyễn Hữu T từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm tù.

Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị bắt 29/6/2024

- Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt tiền cho các bị cáo.

- Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 (phạm tội 02 lần trở lên), điểm h khoản 1 Điều 52 (tái phạm), Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật hình sự: Xử phạt Bùi Văn H từ 24 đến 30 tháng tù.

* Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584; 585, Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Buộc bị cáo Nguyễn Hữu T và Bùi Văn H phải liên đới bồi thường giá trị chiếc xe mô tô cho ông Quyền Đình G 10.000.000đ (mười triệu đồng), bồi thường cho chị Nguyễn Thị M giá trị chiếc xe mô tô 8.000.000đ (Tám triệu đồng)

* Vật chứng: Đề nghị sung công quỹ Nhà nước 01 mô tô của bị cáo T đã sử dụng làm phương tiện phạm tội; thu giữ sung công quỹ Nhà nước 02 điện thoại di động của bị cáo T và bị cáo H trong bì niêm phong ký hiệu H1 và T1.

Tịch thu tiêu hủy 01 van phá khóa bằng kim loại, 01 ba lô màu xanh, 01 BKS số 99F1 - 193.63.

* Án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận, đề nghị Toà án cho hưởng lương khoan hồng của pháp luật.

Lời nói sau cùng của các bị cáo trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo T, H đã thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử cho mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Thủ tục tố tụng:

[1.1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra vụ án, các quyết định và các hành vi tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Tất cả các Quyết định tố tụng trong vụ án đều được lập, giao nhận cho những người tham gia tố tụng theo đúng trình tự mà pháp luật quy định. Các tài liệu, chứng cứ đã thu thập đều phản ánh đúng sự thật khách quan của vụ án, phù hợp với diễn biến của phiên tòa và có đủ cơ sở để chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[1.2]. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Người bị hại, ông Chu Văn S, anh Phạm Mạnh H1 đều có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, Căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xét thấy sự vắng mặt của người tham gia tố tụng nêu trên không gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án và giành quyền kahngs cáo cho người vắng mặt tại phiên tòa theo quy định.

[2]. Đánh giá về tội danh của các bị cáo:

Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Hữu T và Bùi Văn H giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra. Lời khai của hai bị cáo phù hợp với lời khai của những người bị hại, người làm chứng; Kết luận định giá tài sản; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ của vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:

Bị cáo Nguyễn Hữu T, Bùi Văn H là các đối tượng đều có tiền án về tội trộm cắp tài sản, do không có việc làm, để có tiền phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày, ttrong khoảng thời gian tháng 6/2024, lợi dụng gia đình những người bị hại sơ hở trong việc quản lý tài sản, T và H đã thực hiện 04 vụ chiếm đoạt chót lọt tài sản là 04 chiếc xe mô tô của người dân trên địa bàn huyện Đ, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất:

Khoảng 05 giờ 40 phút ngày 22/6/2024, tại rìa đường bê tông đoạn thuộc xóm E, xã V, huyện Đ, H và T đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda wave, màu đen-bạc, BKS: 20F1-143.73 của chị Nguyễn Thị M, T và H đem bán cho người không biết tên và địa chỉ tại thành phố P với giá 5.500.000đ. Số tiền trên T và H đã chi tiêu cá nhân hết. Hiện tại tài sản trên không thu hồi được. Xe mô tô được Hội đồng định giá có giá trị là 8.000.000 đồng

Vụ thứ hai:

Khoảng 06 giờ 45 phút, ngày 22/6/2024, tại khu vực TDP Khu vực Nhà Máy, TT Q, huyện Đ, T và H đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream màu nâu BKS: 20R1- 4059 của anh Quyền Đình G. Sau khi chiếm đoạt T và H đem bán cho người không biết tên với giá 5.000.000đ, số tiền này cả hai đã chi tiêu cá nhân hết. Hiện tại tài sản trên không thu hồi được. Chiếc xe mô tô được Hội đồng định giá xác định có giá trị là 10.000.000 đồng.

Vụ thứ ba:

Khoảng 14 giờ 15 phút, ngày 27/6/2024, tại TDP D, TT Q, huyện Đ, T và H đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda wave, màu xanh, BKS: 20AE - 048.80 của anh Phạm Mạnh H1, có giá trị là 12.000.000 đồng. Hiện tại tài sản trên đã thu hồi và trả lại cho bị hại.

Vụ thứ tư:

Khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 28/6/2024, tại khu vực đền L thuộc xóm D, xã V, huyện Đ, T và H đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda wave, màu xanh-đen-bạc, BKS: 20D1-12227 của ông Chu Văn S, có giá trị là 8.500.000 đồng. Hiện tại tài sản trên đã thu hồi và trả lại cho bị hại.

Tổng giá trị tài sản T và H trộm cắp là 38.500.000 đồng.

[3]. Xét lời khai của các bị cáo Hội đồng xét xử thấy các bị cáo thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người bị hại một cách chót lọt. Do vậy, hành vi, ý thức đã thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành của tội “Trộm cắp tài sản”. Bản cáo trạng số: 111/CT-VKSĐT ngày 14/10/2024 của VKS nhân dân huyện Đ đã truy tố về tội danh và điều luật viện dẫn tại Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng luật.

Cụ thể Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm".

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

...

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

...

g, Tái phạm nguy hiểm”.

[4]. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo được hưởng thấy rằng:

Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã lợi dụng sự thiếu cảnh giác trong quản lý tài sản của bị hại để thực hiện tội phạm. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác là khách thể được pháp luật hình sự Việt Nam bảo vệ, đồng thời còn làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây lo lắng cho quần chúng nhân dân trong việc quản lý tài sản. Do vậy, việc đưa ra xét xử là cần thiết, giáo dục các bị cáo và nâng cao sự cảnh giác của người dân trong việc tự quản lý tài sản.

Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án thấy:

Đây là vụ án mang tính đồng phạm bởi bị cáo T là người khởi xướng chuẩn bị công cụ, phương tiện phạm tội là vam phá khóa bằng kim loại và trực tiếp lái xe mô tô chở H ngồi sau quan sát nếu thấy ai sơ hở tài sản chủ yếu là xe mô tô thì T là người xuống chiếm đoạt, còn H làm nhiệm vụ cảnh giới. Sau khi chiếm đoạt được tài sản thì cùng nhau đi tiêu thụ và chi tiêu chung cũng như còn lại thì chia nhau cùng hưởng lợi theo tỷ lệ 50/50. Do vậy, bị cáo Thái giữ vai trò chính tích cực hơn bị cáo H, còn bị cáo H là đồng phạm giúp sức tích cực. Khi quyết định hình phạt căn cứ vào vai trò thực hiện hành vi phạm tội cũng như xác định trách nhiệm hình sự của người đồng phạm Hội đồng xét xử để bị cáo T phải chịu mức án phạt cao hơn bị cáo.

Về nhân thân:

Đối với bị cáo Nguyễn Hữu T là người có nhân thân quá xấu, bị cáo đã bị Tòa án xét xử 04 lần cùng về loại tội chiếm đoạt tài sản và một lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng với thời hạn giáo dục là 12 tháng nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng và rèn luyện, liên tiếp phạm tội, sau khi chấp hành xong hình phạt tù, do không có việc làm ổn định nên việc chiếm đoạt tài sản của bị cáo làm nguồn thu nhập chủ yếu để duy trì cuộc sống. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ đã truy tố với tình tiết định khung hình phạt tại khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là “Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” là hoàn toàn đúng hành vi vi phạm. Các lần phạm tội bị đưa ra xét xử đều chưa được xóa án tích theo quy định tại Điệu 70 của Bộ luật hình sự. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 53 của Bộ luật hình sự nên lần phạm tội này được xác định là tái phạm nguy hiểm, là tình tiết định khung tăng nặng hình phạt của tội danh bị truy tố và đưa ra xét xử.

Đối với bị cáo Bùi Văn H cũng đã 02 lần bị đưa ra xét xử về cùng loại tội chiếm đoạt tài sản, cụ thể:

Bản án số 167/2015/HSST ngày 14/10/2015 của TAND huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội xử phạt H 07 năm 06 tháng tù giam về tội “Cướp tài sản”. Tổng hợp hình phạt với Bản án số 130/2015/HSST ngày 28/8/2015 của TAND huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội, Bị cáo chấp hành chung cho hai bản án là 08 năm 02 tháng tù giam, chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/11/2021. Bản án số 130 của TAND huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội đến nay đã được xoá án tích. Tuy nhiên, bản án này đã được tổng hợp như đã phân tích nêu trên nên lần phạm tội này của bị cáo H được xác định là tái phạm.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Hữu T và Bùi Văn H được hưởng chung 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Căn cứ Công văn số 64/TANDTC - PC về việc thông báo kết quả giải đáp một số vướng mắc về hình sự, dân sự và tố tụng hành chính của Tòa án nhân dân tối cao ngày 03/4/2019, tại điểm 4, phần I - Hình sự giải thích: “Trường hợp một người thực hiện nhiều lần cùng loại hành vi phạm tội sở hữu, mà giá trị tài sản của các lần phạm tội đã được cộng lại để làm căn cứ xử lý trách nhiệm hình sự theo tình tiết tăng nặng định khung, thì còn bị áp dụng thêm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên”.

Tình tiết “Phạm tội 2 lần trở lên” không phải là tình tiết định khung của Điều 173, Bộ luật Hình sự nên bị cáo T và H còn phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 2 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52, Bộ luật Hình sự.

Bị cáo H còn phải chịu thêm 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[5]. Hội đồng xét xử nhận định về hình phạt cần áp dụng: Đánh giá tính chất vụ án, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo thấy rằng: cả hai bị cáo là người có sức khỏe, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, đã lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu để chiếm đoạt tài sản, mục đích phục vụ cá nhân. Bị cáo cũng đã được giáo dục bằng pháp luật hình sự bị đưa ra xét xử nhiều lần về tội chiếm đoạt tài sản nhưng không lấy đó làm bài học, không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà tiếp tục phạm tội điều đó thể hiện sự coi thường pháp luật. Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn thật nghiêm khắc theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật hình sự để răn đe riêng và phòng ngừa chung đối với hai bị cáo.

[6]. Về hình phạt bổ sung: cả hai bị cáo không có việc làm và thu nhập. Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[7]. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã trình bày luận tội đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử kết tội bị cáo như Cáo trạng đã truy tố, đề nghị mức hình phạt tù đối với bị cáo. Xét đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ của vụ án và diễn biến, kết quả tranh tụng tại phiên tòa cũng như nhận định của Hội đồng xét xử vì vậy, được chấp nhận.

[8]. Về trách nhiệm dân sự:

Tài sản các bị cáo chiếm đoạt gồm 04 chiếc xe mô tô, trong đó có hai chiếc xe mô tô của ông Chu Văn S và anh Phạm Mạnh H1. Cơ quan điều tra đã thu hồi trả cho ông S và anh H1 đã nhận lại tài sản không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với hai chiếc xe mô tô do bị cáo T và H chiếm đoạt của anh Quyền Đình G và chị Nguyễn Thị M không thu hồi lại được. Tại quá trình điều tra anh G và chị M yêu cầu các bị cáo bồi thường giá trị mỗi chiếc xe là 20 triệu đồng. Tuy nhiên, căn cứ vào Biên bản định giá do Hội đồng định giá xác định giá trị chiếc xe của anh G là 10.000.000đ; giá trị chiếc xe mô tô của chị M là 8.000.000đ. Thời điểm định giá tháng 7/2024 sau khi bị mất tài sản. Do vậy, cả anh G và chị M đều thống nhất yêu cầu bị cáp H và bị cáo T phải có trách nhiệm liên đới bồi thường giá trị xe mô tô theo giá trị tài sản do Hội đồng đã định giá, cụ Thể buộc bị cáo H và T liên đới bồi thường cho anh G giá trị xe là 10.000.000đ (Mười triệu đồng); buộc bị cáo H và T liên đới bồi thường cho chị M giá trị xe mô tô là 8.000.000₫ (Tám triệu đồng).

[9] Về xử lý vật chứng vụ án:

Đối với chiếc xe mô tô của bị cáo T đã sử dụng làm phương tiện phạm tội, cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước. Đối với 02 điện thoại di động của bị cáo T và bị cáo H trong bì niêm phong ký hiệu H1 và T1, tại phiên tòa bị cáo xác định trước khi thực hiện hành vi trộm cắp đã liên lạc trao đổi thông tin do đó cũng cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Các vật chứng khác không còn giá trị sử dụng cần: Tịch thu tiêu hủy 01 van phá khóa bằng kim loại, 01 ba lô màu xanh, 01 BKS số 99F1 – 193.63.

[10]. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự theo quy định.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[11].Các vấn đề khác: T và H khai sau khi trộm cắp được tài sản đã đem bán cho người đàn ông tên Q, khoảng 35 tuổi, nhà ở Bắc Giang (không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể) và một người đàn ông không quen biết tại TP Thái Nguyên. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch địa chỉ của những người đàn ông trên nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh:
  2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu T và Bùi Văn H đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

  3. Về hình phạt:
    1. Hình phạt chính:
    2. - Áp dụng điểm b, g Khoản 2 Điều 173; Điều 50, điểm s Khoản 1 Điều 51, điểm g Khoản 1 Điều 52 (phạm tội 02 lần trở lên), Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật hình sự:

      Xử phạt: Nguyễn Hữu T 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù.

      Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị bắt 29/6/2024.

      - Áp dụng Khoản 1 Điều 173; Điều 50, điểm s Khoản 1 Điều 51, điểm g Khoản 1 Điều 52 (phạm tội 02 lần trở lên), điểm h Khoản 1 Điều 52 (tái phạm), Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật hình sự:

      Xử phạt Bùi Văn H 02 (hai) năm tù.

      Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị bắt 29/6/2024

      Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Hữu T và Bùi Văn H mỗi bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

    3. Hình phạt bổ sung:
    4. Miễn hình phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Hữu T và Bùi Văn H.

  4. Về trách nhiệm dân sự:
  5. Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584; 585, Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự.

    Buộc bị cáo Nguyễn Hữu T và Bùi Văn H phải liên đới bồi thường giá trị chiếc xe mô tô cho ông Quyền Đình G 10.000.000đ (mười triệu đồng); bồi thường cho chị Nguyễn Thị M giá trị chiếc xe mô tô là 8.000.000đ (Tám triệu đồng).

    Kể từ ngày Bản án, Quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người bị hại (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  6. Xử lý vật chứng:
  7. Áp dụng Điều 47, Điều 48 của Bộ luật hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

    1. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước:
      • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, số khung RLHJA3921MY070864, số máy JA39E2188161 (xe của Nguyễn Hữu T);
      • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A54, màu xanh, vỏ ốp lưng bằng nhựa trong suốt niêm phong vào phong bì kí hiệu H1 (Điện thoại của Bùi Văn H);
      • - 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 6plus, vỏ máy được dán giấy màu nâu, ốp nhựa phía sau màu trắng trong suốt niêm phong vào phong bì kí hiệu T1 (Điện thoại của Nguyễn Hữu T);
    2. Tịch thu tiêu hủy gồm:
      • 01 van phá khóa bằng kim loại niêm phong trong phong bì ký hiệu A1; 01 ba lô màu xanh, 01 BKS 99F1-193.63;

      (Vật chứng trên hiện đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đại Từ, đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận giữa Công an huyện Đ với Chi cục thi hành án dân sự huyện Đại Từ ngày 22/10/2024).

  8. Án phí:
  9. Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc bị cáo Nguyễn Hữu T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 450.000đ án phí dân sự sơ thẩm. Cộng hai khoản án phí là 650.000₫ (Sáu trăm năm mươi ngàn đồng);

    Buộc bị cáo Bùi Văn H phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 450.000đ án phí dân sự sơ thẩm. Cộng hai khoản án phí là 650.000₫ (Sáu trăm năm mươi ngàn đồng) nộp ngân sách Nhà nước.

  10. Quyền kháng cáo:
  11. Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

    Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, có mặt bị hại (ông G, bà M) tại phiên tòa. Báo cho biết bị cáo và những người có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt người bị hại (ông S, anh H1) tại phiên tòa. Báo cho biết những người vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết công khai, hợp lệ theo quy định.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Công an huyện Đại Từ;
  • - VKS nhân dân huyện Đại Từ;
  • - Thi hành án dân sự huyện Đại Từ;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • - Bị cáo; Trại tạm giam Công an tỉnh TN;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu: HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 113/2024/HSST ngày 04/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 113/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo nhiều lần phạm tội chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger