Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 113/2024/HS-ST

Ngày 29 tháng 10 năm 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Đức.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Phan Thùy Trang; Ngô Thị Lệ Thi;

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Hứa Thoại Khương, Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 102/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 111/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Lữ Văn C, sinh năm 1980; nơi sinh: thành phố C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: tổ B, khóm C, phường C, thành phố H, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo C; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lữ Phan D, sinh năm 1962 (chết) và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1962; chưa có vợ con. Tiền sự: không, tiền án: Ngày 27/9/2016 bị Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xử phạt 08 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, đến ngày 18 tháng 02 năm 2022 chấp hành xong, chưa xóa án tích. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/7/2024 cho đến nay.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Phạm Văn T, sinh năm 1987; nơi cư trú: khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; (vắng mặt;)
  • - Đặng Nguyễn Hoàng T1, sinh năm 1979; nơi cư trú: khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; (vắng mặt;)
  • - Trần Quốc H, sinh năm 1991; nơi cư trú: Tổ A, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; (vắng mặt;)

Người làm chứng:

  • - Hứa Hoàng N1, sinh năm 1991; (vắng mặt;)
  • - Bùi Thị Thúy V, sinh năm 1993; (vắng mặt;)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thực hiện Kế hoạch số 14/KH-CSGT,TT ngày 03/04/2024 của Đội Cảnh sát giao thông, trật tự - Công an thành phố C về thực hiện nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát bảo đảm trật tự an toàn giao thông trên địa bàn thành phố C. Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 08/04/2024, tổ tuần tra số 03 của Đội Cảnh sát giao thông, trật tự - Công an thành phố C do anh Phạm Văn T làm tổ trưởng cùng với Đặng Nguyễn Hoàng T1 và Trần Quốc H đang tuần tra trên tuyến đường T. Khi đến đoạn đường thuộc tổ C, khóm E, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang, lúc này anh T điều khiển xe mô tô đặc chủng chở H ngồi phía sau, phát hiện Lữ Văn C đang điều khiển xe mô tô biển số 59N1-042.54 chở 01 nam thanh niên (chưa rõ lai lịch), nghi vấn đã sử dụng rượu, bia nên tổ tuần tra ra hiệu lệnh cho C dừng xe lại để kiểm tra. Sau khi dừng phương tiện, Cao chỉ xuất trình được giấy chứng nhận đăng ký xe, người nam thanh niên thì bỏ đi, anh T nhiều lần (06 lần) yêu cầu Cao kiểm tra nồng độ cồn nhưng C không chấp hành mà dùng lời lẽ thô tục chửi tổ tuần tra, đồng thời C lấy một cây dao (loại dao bấm) bằng kim loại màu trắng dài 22 cm từ trong túi quần ra cầm trên tay phải rượt đuổi anh T, mục đích là không chấp hành yêu cầu kiểm tra nồng độ cồn. Khi thấy C cầm dao, anh T bỏ chạy về hướng đường N, Cao đuổi theo được một đoạn khoảng 100 mét thì dừng lại, quay lại chổ đậu xe rồi lấy xe điều khiển chạy đi. Sau đó, anh T đến Công an phường C trình báo sự việc. Ngày 12/7/2024, Lữ Văn C bị khởi tố, bắt giam để điều tra.

Căn cứ Kết luận giám định số 804/KL-KTHS ngày 12/7/2024 của Phòng K - Công an tỉnh A, kết luận: Trích xuất 09 ảnh từ dữ liệu 01 tập tin video lưu trữ trong đĩa CD (ký hiệu A) do Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố C, tỉnh An Giang gửi đến giám định chi tiết thể hiện trong phụ lục gồm 05 trang giấy A4;

Vật chứng thu giữ: 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 59N1-042.54, tên chủ xe Dương Thị Thanh T2, địa chỉ: 184/28/4 L, phường T, quận T, thành phố Hồ Chí Minh; 01 cây dao (loại dao bấm) bằng kim loại dài 22 cm, cán bằng kim loại màu trắng-đen dài 12 cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 10 cm.

Trần Văn B, Trần Văn V1, S, Trương Thanh H1 Cáo trạng số: 96/CT-VKSCĐ-HS ngày 04/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc đã truy tố Lữ Văn C về tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (gọi tắt là Bộ luật Hình sự năm 2015).

Tại phiên tòa bị cáo Lữ Văn C khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Lữ Văn C từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy những vật không còn giá trị sử dụng. Giao trả bị cáo giấy chứng nhận đăng ký xe cho bị cáo.

Bị cáo Lữ Văn C không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm về gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của những người này không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng về thời gian, địa điểm, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 08/04/2024, bị cáo (Lữ Văn C) điều khiển xe mô tô biển số 59N1-042.54, nghi vấn đã sử dụng rượu, bia nên tổ tuần tra Đội Cảnh sát giao thông, trật tự-Công an thành phố C ra hiệu lệnh cho bị cáo (Lữ Văn C) dừng xe lại để kiểm tra. Sau khi dừng phương tiện, bị cáo chỉ xuất trình được giấy chứng nhận đăng ký xe, người nam thanh niên thì bỏ đi, anh T là Cảnh sát giao thông nhiều lần (06 lần) yêu cầu bị cáo kiểm tra nồng độ cồn nhưng bị cáo không chấp hành mà dùng lời lẽ thô tục chửi tổ tuần tra, đồng thời bị cáo lấy một cây dao (loại dao bấm) bằng kim loại màu trắng dài 22 cm từ trong túi quần ra cầm trên tay phải rượt đuổi anh T, mục đích là không chấp hành yêu cầu kiểm tra nồng độ cồn. Khi thấy bị cáo cầm dao, anh T bỏ chạy về hướng đường Nguyễn Đình C1, bị cáo đuổi theo được một đoạn khoảng 100 mét thì dừng lại, quay lại chổ đậu xe rồi lấy xe điều khiển chạy đi. Sau đó, anh T đến Công an phường C trình báo sự việc.

Hành vi nêu trên của bị cáo Lữ Văn C đã phạm tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt từ 06 tháng đến 03 năm tù.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lữ Văn C phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải. Bị cáo có điều kiện hoàn cảnh kinh tế khó khăn, nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Đây là tình tiết để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Lữ Văn C là người đã thành niên, bản thân có sức khỏe và có hiểu biết nhất định về pháp luật nhưng hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến hoạt động bình thường đúng đắn của Cảnh sát giao thông, trật tự Công an thành phố C. Bị cáo có nhân thân xấu, đang có 01 tiền án chưa được xóa án tích, nay tiếp tục vi phạm, với hành vi côn đồ, liều lĩnh dùng dao rượt đuổi lực lượng Cảnh sát giao thông, trật tự đang thi hành công vụ, điều đó chứng tỏ bị cáo là người rất coi thường pháp luật. Cần chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 59N1-042.54, tên chủ xe Dương Thị Thanh T2, không liên quan đến tội phạm, xét trả lại cho bị cáo. Tịch thu tiêu hủy vật chứng không còn giá trị sử dụng là cây dao (loại dao bấm) bằng kim loại dài 22 cm, cán bằng kim loại màu trắng-đen dài 12 cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 10 cm;

[8] Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 330; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015;

Tuyên bố bị cáo Lữ Văn C phạm tội “Chống người thi hành công vự”.

Xử phạt bị cáo Lữ Văn C 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 12/7/2024 (mười hai, tháng bảy, năm hai nghìn hai trăm hai mươi bốn).

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Giao trả cho bị cáo Lữ Văn C 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 59N1-042.54 tên chủ xe Dương Thị Thanh T2.

Tịch thu, tiêu hủy 01 cây dao (loại dao bấm) bằng kim loại dài 22cm, cán bằng kim loại màu trắng - đen dài 12cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 10cm.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 14 tháng 10 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc).

3. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 2 Điều 136; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Bị cáo Lữ Văn C phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm .

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Riêng thời hạn kháng cáo của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt là 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • - Viện kiểm sát tỉnh An Giang;
  • - Viện kiểm sát TP. Châu Đốc;
  • - Nhà Tạm giữ TP. Châu Đốc;
  • - Thi hành án DS TP. Châu Đốc;
  • - UBND cấp xã nơi BC cư trú;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 113/2024/HS-ST ngày 29/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về chống người thi hành công vụ

  • Số bản án: 113/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Chống người thi hành công vụ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Thực hiện Kế hoạch số 14/KH-CSGT,TT ngày 03/04/2024 của Đội Cảnh sát giao thông, trật tự - Công an thành phố C về thực hiện nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát bảo đảm trật tự an toàn giao thông trên địa bàn thành phố C. Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 08/04/2024, tổ tuần tra số 03 của Đội Cảnh sát giao thông, trật tự - Công an thành phố C do anh Phạm Văn T làm tổ trưởng cùng với Đặng Nguyễn Hoàng T1 và Trần Quốc H đang tuần tra trên tuyến đường T. Khi đến đoạn đường thuộc tổ C, khóm E, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang, lúc này anh T điều khiển xe mô tô đặc chủng chở H ngồi phía sau, phát hiện Lữ Văn C đang điều khiển xe mô tô biển số 59N1-042.54 chở 01 nam thanh niên (chưa rõ lai lịch), nghi vấn đã sử dụng rượu, bia nên tổ tuần tra ra hiệu lệnh cho C dừng xe lại để kiểm tra. Sau khi dừng phương tiện, Cao chỉ xuất trình được giấy chứng nhận đăng ký xe, người nam thanh niên thì bỏ đi, anh T nhiều lần (06 lần) yêu cầu Cao kiểm tra nồng độ cồn nhưng C không chấp hành mà dùng lời lẽ thô tục chửi tổ tuần tra, đồng thời C lấy một cây dao (loại dao bấm) bằng kim loại màu trắng dài 22 cm từ trong túi quần ra cầm trên tay phải rượt đuổi anh T, mục đích là không chấp hành yêu cầu kiểm tra nồng độ cồn. Khi thấy C cầm dao, anh T bỏ chạy về hướng đường N, Cao đuổi theo được một đoạn khoảng 100 mét thì dừng lại, quay lại chổ đậu xe rồi lấy xe điều khiển chạy đi. Sau đó, anh T đến Công an phường C trình báo sự việc. Ngày 12/7/2024, Lữ Văn C bị khởi tố, bắt giam để điều tra.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger