Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔNG HƯNG

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 113/2024/HSST

Ngày 24/10/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Nhung.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy Quyến và ông Nguyễn Hữu Hiển

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký Tòa án nhân

dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình tham

gia phiên tòa: Bà Lại Thị Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng,

Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, công khai vụ án

hình sự thụ lý số 114/2024/TLST - HS ngày 07/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra

xét xử số 111/2024/QĐXXST - HS ngày 11/10/2024 đối với:

Bị cáo: Trần Văn P, sinh ngày 18/01/1984. Giới tính: Nam.Tên gọi khác:

Không.

Nơi thường trú: Tổ A, phường T, Tp T, tỉnh Thái Bình.

Nơi ở hiện tại: Thôn T, xã P, Tp T, tỉnh Thái Bình.

Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12.

Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông: Trần Văn L, (đã chết). Con bà: Nguyễn Thị N,

sinh năm 1959; Vợ, con: chưa có

Tiền án: Không

Tiền sự: 01. Tại Quyết định số 51/QĐ-TA ngày 20/7/2021 của Toà án nhân dân

thành phố Thái Bình áp dụng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 24 tháng.

Đã chấp hành xong ngày 18/5/2023.

Nhân thân: Bị cáo tham gia nghĩa vụ quân sự tại trung đoàn 242 Quân khu C3

từ năm 2004 đến năm 2006 xuất ngũ về địa phương.

Bị cáo 02 lần bị Toà án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở

chữa bệnh bắt buộc do nghiện ma tuý và 02 bị Toà án xét xử về tội tàng trữ trái phép

chất ma tuý đến nay đã được xoá án tích.

  • + Ngày 29/7/2011 bị Toà án nhân dân thành phố Thái Bình đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc thời hạn 12 tháng, theo quyết định số 1238/QĐ-TA . Bị cáo đã chấp hành xong ngày 27/4/2012. Ngày 20/12/2013 bị Toà án nhân dân thành phố Thái Bình đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc thời hạn12 tháng, theo quyết định số 3571 Bị cáo đã chấp hành xong ngày 10/12/2014.
  • + Bản án số 85/HSST gày 24/5/2016 của Toà án nhân dân thành phố Thái Bình xử phạt P 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 20/02/2018 bị cáo thi hành xong phần hình phạt tù. Ngày 23/9/2016 chấp hành xong án phí.
  • + Bản án số 52/HSST ngày 12/04/2019 của Toà án nhân dân thành phố Thái Bình xử phạt P 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 19/5/2020 chấp hành xong án phạt tù. Ngày 31/5/2019 chấp hành xong án phí.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/6/2024 đến ngày 27/6/2024 chuyển tạm giam.

Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Đ.

( Bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa)

Người chứng kiến:

  1. Ông Phạm Mạnh C, sinh năm 1953
  2. Ông Nguyễn Thái H, sinh năm 1972,

Cùng trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.

(Đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến vụ án tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Văn P sử dụng ma túy loại Hêroin từ năm 2006. Khoảng 12 giờ 10 ngày

22/6/2024, P đi bộ từ nhà ra trục đường xã P, sau đó bắt xe ôm đến khu C, phường Q,

thành phố T để tìm mua ma túy sử dụng. Đến nơi, P đi bộ tìm gặp được một người

đàn ông khoảng 40 tuổi dáng cao, gầy không rõ tên và địa chỉ đang đứng ở khu vực

cầu C. P hỏi mua 400.000 đồng ma túy loại Heroin thì người đàn ông này bảo có. P

đưa 400.000 đồng cho người này, người này cầm tiền và đưa cho P 02 gói nhỏ được

gói bằng giấy kim loại màu trắng, P cầm và bỏ vào túi quần bên phải đang mặc. Tuy

nhiên do tiện việc đã ra ngoài nên P bắt xe ôm xuống xã Đ để tìm mua gà chọi vì biết

ở Đ có gà chọi bán. Khi P đến chân cầu Đ, xã Đ thì xuống xe đi bộ để hỏi thăm tìm

những nhà có nuôi gà chọi. Lúc này, tổ công tác, Công an huyện Đ đang làm nhiệm

vụ phát hiện thấy P có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu P dừng lại, đồng thời mời ông

Phạm Mạnh C và ông Nguyễn Thái H đến chứng kiến. Sau khi được nghe giải thích

quyền và nghĩa vụ P đã khai rõ tên, tuổi, địa chỉ và tự nguyện lấy từ túi quần bên phải

đang mặc 02 gói ma túy vừa mua được giao nộp giao cho lực lượng Công an. Tổ

công tác đã quản lý, niêm phong 02 gói ma túy trong một phong bì thư, sau đó đưa P

về Ủy ban nhân dân xã Đ lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang và đưa

P đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ để làm việc.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Văn P tại phường T, thành phố T không thu

giữ đồ vật, tài liệu gì.

Bản kết luận giám định số 964/KL- KTHS ngày 26/6/2024 của Phòng K Công

an tỉnh T, kết luận: “Mẫu vật gửi giám định là ma tuý, loại Heroine, có khối lượng

0,1832 gam (Không phẩy một nghìn tám trăm ba mươi hai gam) (Bút lục số 30);

Căn cứ vào hành vi phạm tội của bị cáo; Cáo trạng số 114/CT-VKSĐH ngày

07/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng đã truy tố bị cáo về tội:

“Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại

phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng đề nghị Hội đồng xét xử

kết tội bị cáo theo toàn bộ cáo trạng đã truy tố, đồng thời áp dụng điểm c khoản 1

Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51, Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình

sự tuyên bố bị cáo phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; phạt bị cáo mức hình

phạt từ 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù đến 02 (hai) năm tù, không áp dụng hình phạt

bổ sung đối với bị cáo đồng thời đề nghị xử lý vật chứng và buộc bị cáo phải chịu án

phí.

Tại phiên tòa: Bị cáo P xác định Cáo trạng truy tố bị cáo về hành vi tàng trữ

trái phép chất ma túy là đúng pháp luật vì vậy không trình bày lời bào chữa, cũng

không trình bày ý kiến tranh luận về tội danh, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, điều

luật áp dụng, mức hình phạt do Kiểm sát viên đề nghị.

Khi nói lời sau cùng: Bị cáo biết việc tàng trữ ma túy là vi phạm pháp luật,

mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo

được sớm trở về với gia đình.

PHẦN NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[ 1] Về hành vi quyết định tố tụng:

Các tài liệu chứng cứ do Điều tra viên, Kiểm sát viên thu thập trong quá trình

điều tra vụ án đã tuân thủ các quy định của pháp luật. Đó là các tài liệu hợp pháp

chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo. Căn cứ vào các hành vi, quyết định tố tụng

của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên Viện kiểm sát nhân dân

huyện Đông Hưng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng

về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều

tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào

có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người

tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng,

người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[ 2] Về căn cứ xác định có tội, căn cứ xác định vô tội:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa đúng như lời khai nhận tội của bị cáo

tại cơ quan điều tra và phù hợp với Cáo trạng số 114/CT-VKSĐH ngày 07/10/2024

của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng; Biên bản bắt người phạm tội quả tang

do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ lập hồi 14 giờ 05 phút ngày 22/6/2024

tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ; Bản kết luận giám định số 964/KL- KTHS ngày

26/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: “Mẫu vật gửi giám định là ma tuý,

loại Heroine, có khối lượng 0,1832 gam (Không phẩy một nghìn tám trăm ba mươi

hai gam); Lời khai của những người chứng kiến: ông Phạm Minh C1 và Nguyễn Thái

H cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Do vậy có đủ cơ sở kết luận: 13 giờ 00 ngày 22/6/2024 tại trục đường thôn Đ,

xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. Trần Văn P, có hành vi tàng trữ trái phép tại túi quần

bên phải đang mặc 0,1832 gam (Không phẩy một nghìn tám trăm ba mươi hai gam)

ma túy loại Heroine, mục đích để sử dụng, bị Công an huyện Đ, tỉnh Thái Bình phát

hiện, bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội:“ Tàng trữ trái phép chất ma

túy” theo điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Điều 249.Tàng trữ trái phép chất ma túy

  1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

...

c) Heroine, C2, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có

khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

...

  1. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

[3] Về tính chất mức độ hậu quả hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chính sách độc

quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, gây mất trật tự an ninh an toàn xã hội.

Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã 02 lần bị Toà án áp dụng biện pháp xử lý hành

chính đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc do nghiện ma tuý, hai lần phải đi cải tạo về

tội tàng trữ ma túy, biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là bất hợp pháp nhưng vẫn

tàng trữ ma túy để sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân. Vì vậy, việc đưa vụ

án ra xét xử là cần thiết và cần áp dụng mét møcn tương xứng với hành vi phạm tội

của bị cáo, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác

dụng răn đe giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Bị cáo thành khẩn khai báo, có thời gian tham gia quân đội, nên được hưởng

tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình

sự.

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng, là lao động tự do

không có thu nhập ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn. Do vậy không nhất thiết

phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6]Về xử lý vật chứng: Số ma túy loại heroine, thu giữ của bị cáo là chất Nhà

nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

[7]Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp

luật.

[8]Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật

định

Về nguồn gốc số ma túy bị cáo khai mua của người đàn ông khoảng 40 tuổi,

dáng người cao gầy, đứng ở khu vực gần cầu C, thành phố T. Cơ quan điều tra không

xác định được nên không có căn cứ điều tra, xử lý.

Về nguồn gốc số tiền 400.000 đồng dùng vào việc mua ma túy là do bị cáo lao

động mà có nên không truy thu.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn P phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt và điều luật áp dụng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Trần Văn P 02(hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ (ngày 22/6/2024).

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự.

    Tịch thu, tiêu hủy 0,1453 gam ma túy loại heroine được niêm phong, trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 964/KL- KTHS ngày 26/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Đ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Hưng ngày 07/10/2024.

  4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Trần Văn P phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, ngày 24/10/2024.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Công an huyện Đông Hưng;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình;
  • - Chi cục THADS huyện Đông Hưng;
  • - UBND xã Phú Xuân, TP Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
  • - Lưu: Hồ sơ, văn phòng;

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Hà Thị Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 113/2024/HSST ngày 24/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 113/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Phương - Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger