|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 113/2024/HSST Ngày: 30/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Trung Thành
Ông Giang Công Chiến
Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Ngô Thanh Hải - Kiểm sát viên.
Trong ngày 30/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 107/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 09 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 110/2023/QĐXXST-HS ngày 16/09/2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Kiếu Xuân T, sinh năm 2001; tại Nam Định; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Kiếu Văn H, sinh năm 1960 và con bà Ngô Thị C, sinh năm 1964; có 03 anh chị ruột lớn nhất sinh năm 1986, nhỏ nhất sinh năm 1992. Nơi thường trú: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo được áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm, có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Nguyễn Ngọc N, sinh năm 1976. Trú tại: Ấp G, xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.
- Tiền Thủy T4, sinh năm 1978. Trú tại: Tổ B, ấp C, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước.
- Lê Văn N1, sinh năm 1986. Trú tại khu phố C, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.
- Lê Thị Minh T1, sinh năm 1995. Trú tại: Thôn K, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Vũ Văn Đ, sinh năm 1980. Trú tại: Thôn S, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước.
- Bùi Xuân Đ1, sinh năm 1977. Trú tại: Tổ G, khu phố A, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước.
- Đoàn Thị G, sinh năm 1974. Trú tại: Tổ A, khu phố A, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước.
- Trần Thị N2, sinh năm 1983. Trú tại: Tổ C, ấp C, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương.
- Nguyễn Văn P, sinh năm 1975. Trú tại: Khu phố H, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước.
- Ngô Minh C1, sinh năm 1992. Trú tại: Ấp T, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước.
- Phạm Văn V, sinh năm 1982. Khu phố A, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước.
- Huỳnh Văn V1, sinh năm 1973; trú tại khu phố B, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước.
- Đào Văn T2, sinh năm 1974. Trú tại: Tổ E, khu phố E, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước.
- Trần Thị Ái L, sinh năm 1982. Trú tại: Khu phố H, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước.
- Nguyễn Thị Thanh T3, sinh năm 1993. Trú tại: Khu phố H, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bị cáo Kiếu Xuân T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Do muốn kiếm tiền tiêu xài cá nhân nên giữa tháng 3 năm 2023, Kiếu Xuân T (sinh năm 2001) dùng 80.000.000 đồng (tám mươi triệu) làm vốn gốc để thực hiện hoạt động cho vay tiền trả góp hằng ngày lãi suất cao. Số tiền cho vay và số tiền góp hằng ngày là 5.000.000 đồng góp 250.000 đồng/ngày, 10.000.000 đồng góp 500.000 đồng/ngày, 15.000.000 đồng góp 750.000 đồng/ngày, 20.000.000 đồng góp 1.000.000 đồng/ngày, thời gian góp 24 ngày, lãi suất là 304.17%/năm, gấp 15.2 lần mức cao nhất Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định (20%/năm). Ngoài ra, T còn thu thêm khoản “phí hồ sơ” (do T tự đặt ra) với số tiền bằng 01 (một) ngày góp. T in nhiều tờ rơi với nội dung cho vay tiền không cần thế chấp, số điện thoại liên hệ 0989.623.xxx rồi đem rải ở nhiều khu vực thuộc huyện Đ; thành phố Đ; thị xã C. Người có nhu cầu vay tiền thường là tiểu thương kinh doanh tiệm tạp hóa, quán nước giải khát, nước đóng bình, quán nhậu... cần tiền mua hàng, xoay vòng hàng ngày. Khi người có nhu cầu vay liên hệ, T đến gặp và nói chuyện trực tiếp để biết mặt, địa chỉ nhà hoặc nơi thuê trọ, hình thức kinh doanh, đánh giá khả năng góp... nếu đồng ý cho vay, T giữ giấy tờ gốc như CCCD, sổ hộ khẩu, CMND, giấy khai sinh... T trừ trước số tiền tương ứng 02 (hai) ngày góp cộng với phí hồ sơ rồi đưa tiền mặt hoặc chuyển khoản (chủ yếu dùng tài khoản số 19037134516013 Ngân hàng T13, đầu tháng 7/2023 dùng thêm tài khoản số [...]). Người vay trả tiền góp hằng ngày bằng cách đưa tiền mặt hoặc chuyển khoản. Từ ngày 18/3/2023 đến ngày 16/7/2023, T đã cho 15 (mười lăm) người vay tiền, cụ thể như sau.
- Ngày 18/3/2023, tại xã T, thành phố Đ, T cho Nguyễn Ngọc N (sinh năm 1976) vay 10.000.000 đồng (mười triệu đồng), trả góp 500.000 đồng/ngày trong thời gian 24 ngày, phí hồ sơ 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng), đã trả góp xong. Ngày 07/6/2023, T tiếp tục cho N vay 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) với thỏa thuận như trên, đã hoàn thành vào ngày 24/6/2023 bằng cách đáo hạn. Nữ tiếp tục vay lại và đã trả góp được 19 ngày. Ngoài gói vay này, ngày 15/7/2023, T cho N vay 5.000.000 đồng (năm triệu đồng), trả góp 250.000 đồng/ngày trong thời gian 24 ngày, phí hồ sơ 250.000 đồng (hai trăm năm mươi nghìn đồng) và đã trả góp được 02 ngày. Số tiền lãi T đã thu là 5.666.667 đồng (năm triệu sáu trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng), trong đó tiền lãi vượt mức 20%/năm là 5.294.064 đồng (năm triệu hai trăm chín mươi tư nghìn không trăm sáu mươi tư đồng). Số tiền phí hồ sơ T đã thu là 1.750.000 đồng (một triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng). Tổng số tiền T thu lợi bất chính (tiền lãi vượt mức 20%/năm + tiền phí hồ sơ) là 7.044.064 đồng (bảy triệu không trăm bốn mươi bốn nghìn không trăm sáu mươi tư đồng).
- Ngày 19/3/2023, tại thị trấn T, huyện Đ, T cho Tiền Thủy T4 (sinh năm 1978) vay 10.000.000 đồng (mười triệu đồng), trả góp 500.000 đồng/ngày trong thời gian 24 ngày, phí hồ sơ 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng). Ngày 30/3/2023, T4 hoàn thành bằng cách đáo hạn và xin nâng số tiền vay lên. Gói vay mới là 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng), trả góp 750.000 đồng/ngày trong thời gian 24 ngày, phí hồ sơ 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng), đã hoàn thành 02 (hai) lần bằng cách đáo hạn. Ngày 07/5/2023, T4 tiếp tục xin nâng số tiền vay lên. Gói vay mới là 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng), trả góp 1.000.000 đồng/ngày trong thời gian 24 ngày, phí hồ sơ 750.000 đồng (bảy trăm năm mươi nghìn đồng). T4 đã hoàn thành 02 (hai) lần bằng cách đáo hạn, phí hồ sơ mỗi lần đáo là 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng) và tiếp tục trả góp được 09 (chín) ngày. Số tiền lãi T đã thu là 17.500.000 đồng (mười bảy triệu năm trăm nghìn đồng), trong đó tiền lãi vượt mức 20%/năm là 16.349.315 đồng (mười sáu triệu ba trăm bốn chín nghìn ba trăm mười lăm đồng). Số tiền phí hồ sơ T đã thu là 3.850.000 đồng (ba triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng). Tổng số tiền T thu lợi bất chính (tiền lãi vượt mức 20%/năm + tiền phí hồ sơ) là 20.199.315 đồng (hai mươi triệu một trăm chín mươi chín nghìn ba trăm mười lăm đồng).
- Ngày 04/06/2023, tại phường T, thành phố Đ, T cho Lê Văn N1 (sinh năm 1986) vay 5.000.000 đồng (năm triệu đồng), trả góp (gốc và lãi) 250.000đ/ngày, góp trong 24 ngày, phí hồ sơ 250.000 đồng (hai trăm năm mươi nghìn đồng) và đã trả góp đủ. Số tiền lãi T đã thu là 1.000.000 đồng (một triệu đồng), trong đó tiền lãi vượt mức 20%/năm là 934.247 đồng (chín trăm ba tư nghìn hai trăm bốn mươi bảy đồng). Tổng số tiền T thu lợi bất chính (tiền lãi vượt mức 20%/năm + tiền phí hồ sơ) là 1.184.247đ (một triệu một trăm tám mươi tư nghìn hai trăm bốn mươi bảy đồng).
- Ngày 22/06/2023, tại phường T, thành phố Đ, T cho Lê Thị Minh T1 (sinh năm 1995) vay 10.000.000 đồng (mười triệu đồng), trả góp 500.000đ/ngày, góp trong 24 ngày, phí hồ sơ 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng), đã góp được 09 ngày. Số tiền lãi T đã thu là 750.000 đồng (bảy trăm năm mươi nghìn đồng), trong đó tiền lãi vượt mức 20%/năm là 700.685 đồng (bảy trăm nghìn sáu trăm tám mươi lăm đồng). Tổng số tiền T thu lợi bất chính (tiền lãi vượt mức 20%/năm + tiền phí hồ sơ) là 1.200.685 đồng (một triệu hai trăm nghìn sáu trăm tám mươi lăm đồng).
- Ngày 30/6/2023, tại phường H, thị xã C, T cho Vũ Văn Đ (sinh năm 1980) vay 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng), trả góp 350.000 đồng/ngày trong thời gian 24 ngày, phí hồ sơ 350.000 đồng (ba trăm năm mươi nghìn đồng), đã trả góp được 16 ngày. Số tiền lãi T đã thu là 933.333 đồng (chín trăm ba mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng), trong đó tiền lãi vượt mức 20%/năm là 871.963 đồng (tám trăm bảy mươi mốt nghìn chín trăm sáu mươi ba đồng). Tổng số tiền T thu lợi bất chính (tiền lãi vượt mức 20%/năm + tiền phí hồ sơ) là 1.221.963 đồng (một triệu hai trăm hai mươi mốt nghìn chín trăm sáu mươi ba đồng).
- Ngày 05/7/2023, tại phường M, thị xã C, T cho Bùi Xuân Đ1 (sinh năm 1977) vay 5.000.000 đồng (năm triệu đồng), trả góp 250.000 đồng/ngày, góp trong 24 ngày, phí hồ sơ 250.000 đồng, đã trả góp được 14 ngày. Số tiền lãi T đã thu là 583.333 đồng (năm trăm tám mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng), trong đó tiền lãi vượt mức 20%/năm là 544.977 đồng (năm trăm bốn mươi bốn nghìn chín trăm bảy mươi bảy đồng). Tổng số tiền T thu lợi bất chính (tiền lãi vượt mức 20%/năm + tiền phí hồ sơ) là 794.977 đồng (bảy trăm chín mươi bốn nghìn chín trăm bảy mươi bảy đồng).
- Ngày 06/7/2023, tại phường M, thị xã C, T cho Đoàn Thị G (sinh năm 1974) vay 2.000.000 đồng (hai triệu đồng), trả góp (gốc và lãi) 100.000 đồng/ngày, trong thời gian 24 ngày, phí hồ sơ 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng), đã góp 11 ngày. Ngoài gói vay này, ngày 13/7/2023, T tiếp tục cho G vay 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) với thỏa thuận như trên và đã góp được 04 ngày. Tổng số tiền lãi T đã thu là 250.000 đồng (hai trăm năm mươi nghìn đồng), trong đó tiền lãi vượt mức 20%/năm là 233.562 đồng (hai trăm ba mươi ba nghìn năm trăm sáu mươi hai đồng). Số tiền phí hồ sơ T đã thu là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng). Tổng số tiền T thu lợi bất chính (tiền lãi vượt mức 20% + tiền phí hồ sơ) là 433.562 đồng (bốn trăm ba mươi ba nghìn năm trăm sáu mươi hai đồng).
- Ngày 06/7/2023, tại phường M, thị xã C, T cho Trần Thị N2 (sinh năm 1983) vay 2.000.000 đồng (hai triệu đồng), trả góp 100.000 đồng/ngày trong thời gian 24 ngày, phí hồ sơ 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng), đã góp được 12 ngày. Tổng số tiền lãi T đã thu là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng), trong đó tiền lãi vượt mức 20%/năm là 186.849 đồng (một trăm tám mươi sáu nghìn tám trăm bốn mươi chín đồng). Tổng số tiền T thu lợi bất chính (tiền lãi vượt mức 20%/năm + tiền phí hồ sơ) là 286.849 đồng (hai trăm tám mươi sáu nghìn tám trăm bốn mươi chín đồng).
- Ngày 06/7/2023, tại phường H, thị xã C, T cho Nguyễn Văn P (sinh năm 1975) vay 5.000.000 đồng (năm triệu đồng), trả góp 250.000 đồng/ngày trong thời gian 24 ngày, phí hồ sơ 250.000 đồng (hai trăm năm mươi nghìn đồng), đã trả góp được 11 ngày. Số tiền lãi T đã thu là 458.333 đồng (bốn trăm năm mươi tám nghìn ba trăm ba mươi ba đồng), trong đó tiền lãi vượt mức 20%/năm là 428.196 đồng. Tổng số tiền T thu lợi bất chính (tiền lãi vượt mức 20%/năm + tiền phí hồ sơ) là 678.196 đồng (sáu trăm bảy mươi tám nghìn một trăm chín mươi sáu đồng).
- Ngày 07/7/2023, tại phường M, thị xã C, T cho Ngô Minh C1 (sinh năm 1992) vay 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng), trả góp 1.000.000 đồng/ngày trong thời gian 24 ngày, phí hồ sơ 1.000.000 đồng (một triệu đồng), đã góp 11 ngày. Trong quá trình điều tra, ngày 29/7/2023 C1 đã trả cho T 7.500.000 đồng (bảy triệu năm trăm nghìn đồng) tiền gốc mà C1 còn nợ T. Số tiền lãi T đã thu là 1.833.333 đồng (một triệu tám trăm ba mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng), trong đó tiền lãi vượt mức 20%/năm là 1.712.785 đồng (một triệu bảy trăm mười hai nghìn bảy trăm tám mươi lăm đồng). Tổng số tiền T thu lợi bất chính (tiền lãi vượt mức 20%/năm + tiền phí hồ sơ) là 2.712.785 đồng (hai triệu bảy trăm mười hai nghìn bảy trăm tám mươi lăm đồng).
- Ngày 07/7/2023, tại phường H, thị xã C, T cho Phạm Văn V (sinh năm 1982) vay 5.000.000 đồng (năm triệu đồng), trả góp 250.000 đồng/ngày, trong thời gian 24 ngày, phí hồ sơ 250.000 đồng (hai trăm năm mươi nghìn đồng), đã trả góp được 04 ngày. Số tiền lãi T đã thu là 166.667 đồng (một trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng), trong đó tiền lãi vượt mức 20%/năm là 155.708 đồng (một trăm năm mươi lăm nghìn bảy trăm lẻ tám đồng) là tiền lãi vượt quá lãi suất trên 20%/năm. Tổng số tiền T thu lợi bất chính (tiền lãi vượt mức 20%/năm + tiền phí hồ sơ) là 405.708 đồng (bốn trăm lẻ năm nghìn bảy trăm lẻ tám đồng).
- Ngày 09/7/2023, tại phường H, thị xã C, T cho Huỳnh Văn V1 (sinh năm 1973) vay Trường 5.000.000 đồng (năm triệu đồng), trả góp (gốc và lãi) 250.000đ/ngày, trong thời gian 24 ngày, phí hồ sơ 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng), đã góp được 09 ngày. Số tiền lãi T đã thu là 375.000 đồng (ba trăm bảy mươi lăm nghìn đồng), trong đó tiền lãi vượt mức 20%/năm là 350.342 đồng (ba trăm năm mươi nghìn ba trăm bốn mươi hai đồng). Tổng số tiền T thu lợi bất chính (tiền lãi vượt mức 20%/năm + tiền phí hồ sơ) là 500.342 đồng (năm trăm nghìn ba trăm bốn mươi hai đồng).
- Ngày 10/7/2023, tại phường H, thị xã C, T cho Đào Văn T2 (sinh năm 1974) vay 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng), trả góp (gốc và lãi) 1.000.000 đồng/ngày, trong thời gian 24 ngày, phí hồ sơ 1.000.000 đồng (một triệu đồng), đã trả góp được 06 ngày. Ngoài gói vay này, ngày 13/7/2023, T2 còn vay gói 10.000.000 đồng (mười triệu đồng), trả góp (gốc và lãi) 500.000 đồng/ngày trong thời gian 24 ngày, phí hồ sơ 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng), đã góp 03 ngày. Trong quá trình điều tra, ngày 30/08/2023, T2 trả cho T 19.000.000 đồng (mười chín triệu đồng) tiền gốc mà T2 còn nợ T. Số tiền lãi T đã thu là 1.416.667 đồng (một triệu bốn trăm mười sáu nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng), trong đó tiền lãi vượt mức 20%/năm là 1.323.516 đồng. Số tiền phí hồ sơ T đã thu là 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng). Tổng số tiền T thu lợi bất chính (tiền lãi vượt mức 20% + tiền phí hồ sơ) là 2.823.516 đồng (hai triệu tám trăm hai mươi ba nghìn năm trăm mười sáu đồng).
- Ngày 13/7/2023, tại phường H, thị xã C, T cho Trần Thị Ái L (sinh năm 1982) vay 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng), trả góp (gốc và lãi) 750.000 đồng/ngày, trong thời gian 24 ngày, phí hồ sơ 750.000 đồng (bảy trăm năm mươi nghìn đồng), đã trả góp được 04 ngày. Trong quá trình điều tra, cuối tháng 7/2023 (không rõ ngày), L trả cho T 2.750.000 đồng (hai triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) tiền gốc mà L còn nợ T. Số tiền lãi T đã thu là 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng), trong đó tiền lãi vượt mức 20%/năm là 467.123 đồng (bốn trăm sáu mươi bảy nghìn một trăm hai mươi ba đồng). Tổng số tiền T thu lợi bất chính (tiền lãi vượt mức 20%/năm + tiền phí hồ sơ) là 1.217.123 đồng (một triệu hai trăm mười bảy nghìn một trăm hai mươi ba đồng).
- Ngày 13/7/2023, tại phường H, thị xã C, T cho Nguyễn Thị Thanh T3 (sinh năm 1993) vay 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng), trả góp (gốc và lãi) 750.000 đồng/ngày, trong thời gian 24 ngày, phí hồ sơ 750.000 đồng (bảy trăm năm mươi nghìn đồng), đã trả góp được 04 ngày. Số tiền lãi T đã thu là 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng), trong đó tiền lãi vượt mức 20%/năm là 467.123 đồng (bốn trăm sáu mươi bảy nghìn một trăm hai mươi ba đồng). Tổng số tiền T thu lợi bất chính (tiền lãi vượt mức 20%/năm + tiền phí hồ sơ) là 1.217.123 đồng (một triệu hai trăm mười bảy nghìn một trăm hai mươi ba đồng).
Tổng số tiền lãi Kiếu Xuân T đã thu là 32.133.300 đồng (ba mươi hai triệu một trăm ba mươi ba nghìn ba trăm đồng), trong đó tiền lãi vượt mức 20%/năm là 30.020.500 đồng (ba mươi triệu không trăm hai mươi nghìn năm trăm đồng).
Tổng số tiền Kiếu Xuân T thu phí trái pháp luật là 11.900.000 đồng (mười một triệu chín trăm nghìn đồng).
Như vậy, từ ngày 18/3/2023 đến ngày 16/7/2023, Kiếu Xuân T đã sử dụng số tiền gốc để cho bị cáo cho 15 người vay là 263.000.000 đồng; số tiền thu lợi bất chính là 41.920.500 đồng (bao gồm lãi suất cho phép 20%/năm là 2.112.800 đồng và tiền lãi vượt quá 20%/năm là 30.020.500 đồng + thu phí trái pháp luật của 15 người là 11.900.000 đồng).
Quá trình điều tra, Kiếu Xuân T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Tại Cáo trạng số 109/CT-VKS ngày 06/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân (KSND) huyện Đ, tỉnh Bình Phước đã truy tố bị cáo Kiếu Xuân T về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (sau đây gọi Bộ luật Hình sự);
Tại phiên tòa, đại diện Viện KSND huyện Đ, tỉnh Bình Phước giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Kiếu Xuân T, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Kiếu Xuân T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35, Điều 50 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đề xuất tuyên phạt bị cáo Kiếu Xuân T từ 80.000.000 (tám mươi triệu) đồng đến 100.000.000 (một trăm triệu) đồng;
Đề nghị tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 6.918.000 đồng tiền gốc còn lại mà bị cáo đã sử dụng để cho vay; truy thu của bị cáo số tiền lãi theo mức cao nhất của Bộ luật Dân sự: 2.113.000 đồng và số tiền phí hồ sơ là 11.900.000 đồng; tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 30.000.000 đồng do bị cáo đã vi phạm nghĩa vụ đặt cọc bảo lãnh.
Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 5 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, đề nghị:
- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu đen (dạng bàn phím), số seri 1: 353454/04/951220/7: Bị cáo dùng để liên lạc với người vay.
- Lưu hồ sơ vụ án: 01 (một) giấy khai sinh, số: 358 mang tên Đoàn Thị G (bản sao): Đã được đánh bút lục, đưa vào hồ sơ vụ án nên cần tiếp tục lưu hồ sơ vụ án.
- Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) thẻ Ngân hàng T13 số thẻ 9704079962436014 mang tên Kiếu Xuân T.
Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, biển kiểm soát: 11H1 - 198.59, số máy: JA3E-0716308 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe quá trình điều tra chưa làm rõ được nguồn gốc, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ tách ra tiếp tục xác minh, xử lý sau nên cần tiếp tục giao cho Công an huyện Đ xác sinh làm rõ và xử lý theo thẩm quyền.
Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước trình bày lời luận tội đối với bị cáo và kết luận đối với vụ án, bị cáo Kiếu Xuân T không có ý kiến tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định trên. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều là đúng pháp luật.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên, sự vắng mặt của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Kiếu Xuân T khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng số 109/CT-VKS ngày 06/9/2024 của Viện KSND huyện Đ, tỉnh Bình Phước đã truy tố; bị cáo thừa nhận do muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên từ tháng 3 đến tháng 7 năm 2023, Kiếu Xuân T đã cho 15 (mười lăm) người vay tiền theo hình thức tín chấp trả góp hằng ngày với lãi suất cao gấp 15.2 lần mức cao nhất Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định trên địa bàn huyện Đ, thị xã C và thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. Tổng số tiền đã cho vay là 263.000.000 đồng (hai trăm sáu mươi ba triệu đồng); tiền lãi đã thu là 32.133.300 đồng (ba mươi hai triệu một trăm ba mươi ba nghìn ba trăm đồng), trong đó tiền lãi vượt mức 20%/năm là 30.020.500 đồng (ba mươi triệu không trăm hai mươi nghìn năm trăm đồng); tiền phí hồ sơ là 11.900.000 đồng (mười một triệu chín trăm nghìn đồng). Tổng số tiền T thu lợi bất chính (tiền lãi vượt mức 20%/năm + tiền phí hồ sơ) là 41.920.500 đồng (bốn mươi mốt triệu chín trăm hai mươi nghìn năm trăm đồng).
Xét lời khai nhận của bị cáo Kiếu Xuân T tại phiên tòa là phù hợp lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cũng như những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự.
[3] Về tính chất, mức độ ảnh hưởng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, cụ thể là trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ đã được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương.
Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức và làm chủ được hành vi của mình, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và bị pháp luật nghiêm trị; hành vi cho vay lãi nặng có thể dẫn đến nhiều ảnh hưởng không tốt cho người vay và xã hội như (vay lãi cao dẫn đến mất khả năng trả nợ; đánh chửi nhau, có thể ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình...và nhiều hệ lụy khác) nhưng vì động cơ, mục đích ham lợi nhanh, có tiền tiêu xài cá nhân mà bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như đã nêu ở trên. Bị cáo cho rằng lúc đầu bị cáo chỉ có 80.000.000 đồng là vốn cho vay xoay vòng, nhưng sau đó số tiền cho vay đã lên đến 263.000.000 đồng như đã nói ở trên. Hành vi của bị cáo cần phải xét xử mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Kiếu Xuân T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; không có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã ra đầu thú khi bị truy nã; trình độ văn hóa thấp (7/12) nên việc am hiểu pháp luật còn hạn chế. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự được áp dụng khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[5] Căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Xét thấy, bị cáo là người có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, không thuộc trường hợp phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, hoạt động dưới hình thức băng, ổ nhóm nên chỉ cần áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo là phù hợp để bị cáo có cơ hội cải tạo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình, cộng đồng và xã hội.
[6] Về hình phạt bổ sung: Do đã áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật, tiền liên quan đến tội phạm:
Đối với hình thức vay tiền trả góp và vay tiền lãi đứng thì việc người vay tiền hoàn trả toàn bộ tiền gốc, tiền lãi; hoàn trả một phần tiền góp (tiền gốc và tiền lãi) hay mới hoàn trả tiền góp theo ngày; căn cứ hướng dẫn tại Công văn số 212/TANDTC-PC ngày 13/9/2019 của Tòa án nhân dân tối cao và Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định “...đối với khoản tiền gốc bị cáo cho vay là phương tiện bị cáo thực hiện hành vi phạm tội và khoản tiền lãi tương ứng mức lãi suất 20%/năm và tiền phí (nếu có) là tiền phát sinh từ việc phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước. Đối với số tiền lãi vượt mức lãi suất quy định của Nhà nước (trên 20%) thì buộc bị cáo hoàn trả lại cho người vay, đối với số tiền gốc (trong vay tín chấp) và nợ gốc còn lại (vay góp) của người vay thì buộc người vay nộp lại để sung vào công quỹ Nhà nước”. Như vậy về số tiền bị cáo cho vay, số tiền thu được từ hoạt động cho vay và số tiền những người vay còn nợ lại bị cáo sẽ được xử lý như sau:
- Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã chứng minh được tổng là 263.000.000 đồng; đây là số tiền bị cáo sử dụng để làm phương tiện phạm tội theo quy định thì bị cáo phải nộp toàn bộ số tiền này để sung vào công quỹ Nhà nước. Tuy nhiên, do số tiền gốc các con nợ còn đang giữ của bị cáo là 65.832.000 đồng nên bị cáo còn phải nộp lại số tiền là 263.000.000 đồng – 65.832.000 đồng (tiền các con nợ đang giữ) = 197.168.000 đồng.
- Số tiền lãi theo mức cao nhất của Bộ luật Dân sự mà bị cáo Kiếu Xuân T đã thu của 15 người vay là 2.112.800 đồng và số tiền thu phí trái pháp luật của 15 người vay là 11.900.000 đồng; đây là số tiền bị cáo có được do phạm tội mà có và số tiền thu lợi bất chính nên cần buộc cáo phải nộp lại để sung vào công quỹ Nhà nước.
Đối với số tiền gốc mà người vay chưa trả cho bị cáo Kiếu Xuân T, tại phiên tòa bị cáo xác định là bà Ngô Minh C1 và ông Đào Văn T2 đã trả hết số nợ gốc cho bị cáo. Hiện tại chỉ còn 13 người vay chưa trả và số tiền chưa trả tổng cộng là 65.832.000 đồng, gồm: bà Nguyễn Ngọc N số tiền 6.666.000 đồng; bà Tiền Thủy T4 số tiền 12.500.000 đồng; bà Lê Thị Minh T1 số tiền 6.250.000 đồng; ông Vũ Văn Đ, số tiền 2.333.000 đồng; ông Bùi Xuân Đ1, số tiền 2.083.000 đồng; bà Đoàn Thị G số tiền 2.750.000đồng; bà Trần Thị N2 số tiền 1.000.000 đồng; ông Nguyễn Văn P số tiền 2.708.000 đồng; ông Phạm Văn V số tiền 4.167.000 đồng; ông Huỳnh Văn V1 số tiền 3.125.000 đồng; bà Trần Thị Ái L số tiền 9.750.000 đồng; bà Nguyễn Thị Thanh T3 số tiền 12.500.000 đồng. Đây là số tiền bị cáo sử dụng để làm phương tiện phạm tội mà những vay trên còn đang giữ của bị cáo nên cần buộc những người vay nói trên nộp lại để sung vào công quỹ Nhà nước.
Đối với số tiền lãi vượt quá 20%/năm mà bị cáo đã thu được từ những người vay tổng cộng là 30.020.457 đồng. Đây là số tiền mà những người vay phải trả lãi cao cho bị cáo nên theo quy định của pháp luật thì phải trả lại cho người vay số tiền này nên cần buộc bị cáo Kiếu Xuân T phải trả lại cho 15 người vay, gồm: bà Nguyễn Ngọc N số tiền 5.294.064 đồng; bà Tiền Thủy T4 số tiền 16.349.315 đồng; bà ông Lê Văn N1 số tiền 934.247 đồng; bà Lê Thị Minh T1 số tiền 700.685 đồng; ông Vũ Văn Đ số tiền 871.963 đồng; ông Bùi Xuân Đ1 số tiền 544.977 đồng; bà Đoàn Thị G số tiền 233.562 đồng; bà Trần Thị N2 số tiền 186.849 đồng; ông Nguyễn Văn P số tiền 428.196 đồng; bà Ngô Minh C1 số tiền 1.712.785 đồng; ông Phạm Văn V số tiền 155.708 đồng; ông Huỳnh Văn V1 số tiền 350.342 đồng; ông Đào Văn T2 số tiền 1.323.516 đồng; bà Trần Thị Ái L số tiền 467.123 đồng; bà Nguyễn Thị Thanh T3 số tiền 467.123 đồng.
[9] Xử lý vật chứng:
Ngày 27/10/2023, Cơ quan điều tra ra quyết định trả lại giấy tờ cho những người vay tiền Bùi Xuân Đ1 01 căn cước công dân số [...] (bản sao) và 01 Giấy chứng nhận kết hôn (bản sao) số: 06/2012; trả cho Huỳnh Văn V1 01 căn cước công dân số [...] mang tên Huỳnh Văn V1; trả cho Vũ Văn Đ 01 căn cước công dân số [...] mang tên Vũ Văn Đ; trả cho Phạm Văn V 01 Chứng minh nhân dân số [...] và 01 thông báo số định danh cá nhân mang tên Phạm Văn V; trả cho Nguyễn Văn P 01 sổ hộ khẩu số [...] và 01 Giấy hẹn trả thẻ căn cước công dân của Nguyễn Văn P, trả cho Trần Thị N201 Giấy khai sinh, số 03 mang tên Võ Thanh N3; trả cho Nguyễn Thị Thanh T3 01 Giấy phép lái xe hạng B2, số: [...], mang tên Nguyễn Thị Thanh T3 (bản gốc) (bút lục 154 – 161) nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu đen (dạng bàn phím), số seri 1: 353454/04/951220/7 là phương tiện bị cáo dùng để liên lạc, phục vụ việc cho vay và đòi nợ, dùng vào việc phạm tội nên cần tuyên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 giấy khai sinh, số: 358 mang tên Đoàn Thị G (bản sao) và 02 (hai) giấy trả tiền giữa Ngô Minh C1 và Kiếu Xuân T, giữa Đào Văn T2 và Kiếu Xuân T là tài liệu liên quan đến vụ án nên cần lưu trữ trong hồ sơ vụ án nên HĐXX không xem xét.
- Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, biển kiểm soát: 11H1 - 198.59, số máy: JA3E-0716308 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe quá trình điều tra chưa làm rõ được nguồn gốc, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ tách ra tiếp tục xác minh, xử lý sau nên cần tiếp tục giao cho Công an huyện Đ xác minh làm rõ và xử lý theo thẩm quyền.
01 (một) thẻ Ngân hàng T13 số thẻ 9704079962436014 mang tên Kiếu Xuân T. Đây là phương tiện mà bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
[10] Đối với số tiền 30.000.000 đồng do bị cáo Kiếu Xuân T nộp để bảo đảm nhằm thay thế biện pháp ngăn chặn: Quá trình truy tố, xét xử, bị cáo đã vi phạm nghĩa vụ và bị truy nã. Do vậy, căn cứ Điều 122 BLTTHS, các Điều 10, 11, 12 thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC ngày 07/8/2018 của Liên ngành Trung ương, tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
Đối với chiếc điện thoại Iphone XS, màu đen theo lời khai của bị can T5 là T5 mượn của Lê Đức T6 rồi dùng để giao dịch với người vay tiền, sau đó T6 đã lấy lại điện thoại rồi bỏ đi đâu không rõ. Quá trình điều tra không thu giữ được điện thoại, không làm việc được với Lê Đức T6 Viện kiểm sát không đề cập xử lý, nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý trong vụ án.
Đối với Kiếu Văn Đ2 cho Kiếu Xuân T mượn tài khoản số 8837983983 Ngân hàng T13, sau đó T sử dụng để giao dịch với người vay. Quá trình điều tra không thu thập được tài liệu, chứng cứ chứng minh Kiếu Văn Đ2 đồng phạm với T nên Viện kiểm sát không xử lý, nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý trong vụ án.
Đối với 23 người có giao dịch tài khoản với KiếuXuân T gồm Nguyễn Thị Huỳnh N4, Phan Thị Hoài H1, Phan Văn N5, Võ Thị Ngọc T7, Lê Nguyễn K, Phan Thị Ngọc T8, Lê Văn H2, Lai Thị Tuyết N6, Nguyễn Hữu K1, Trần Q, Trần Thị Tuyết T9, Lưu Thị H3, Trương Thanh S, Lê Tuấn A, Lê Thị H4, Nguyễn Quang M, Phạm Văn B, Nguyễn Kiên C2, Hồ N, Trịnh Đình Q1, Lê Minh T10, Nguyễn Thị T11 và Nguyễn Thị H5. Quá trình điều tra không thu thập được tài liệu, chứng cứ chứng minh Kiếu Xuân T cho 23 người này vay tiền thu lãi suất cao nên không Viện kiểm sát không đề cập xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[10] Án phí hình sự sơ thẩm: Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[6] Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú truy tố bị cáo Kiều Xuân T12 về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Quan điểm của đại diện Viện KSND huyện Đ, tỉnh Bình Phước về điều luật, mức hình phạt phù hợp với quan điểm của HĐXX; các vấn đề khác phù hợp một phần quan điểm của HĐXX nên được ghi nhận để xem xét khi quyết định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Kiếu Xuân T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
- Hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2, Điều 51; các Điều 35, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Kiếu Xuân T 80.000.000 đồng (tám mươi triệu đồng)
Hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung.
- Xử lý số tiền liên quan và vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 201 Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.
Truy thu của Kiếu Xuân T để nộp ngân sách Nhà nước số tiền bị cáo sử dụng để làm phương tiện phạm tội là 263.000.000 đồng – 65.832.000 đồng (tiền các con nợ đang giữ) = 197.168.000 đồng.
Truy thu của Kiếu Xuân T để nộp ngân sách Nhà nước số tiền lãi 20%/năm (theo mức cao nhất của Bộ luật Dân sự) mà bị cáo Kiếu Xuân T đã thu của 15 người vay là 2.112.800 đồng và số tiền thu phí trái pháp luật của 15 người vay là 11.900.000 đồng;
Truy thu nộp ngân sách Nhà nước đối với số tiền gốc là 65.832.000 đồng của 13 người (đã vay nhưng chưa trả cho bị cáo Kiếu Xuân T), gồm: bà Nguyễn Ngọc N số tiền 6.666.000 đồng; bà Tiền Thủy T4 số tiền 12.500.000 đồng; bà Lê Thị Minh T1 số tiền 6.250.000 đồng; ông Vũ Văn Đ, số tiền 2.333.000 đồng; ông Bùi Xuân Đ1, số tiền 2.083.000 đồng; bà Đoàn Thị G số tiền 2.750.000đồng; bà Trần Thị N2 số tiền 1.000.000 đồng; ông Nguyễn Văn P số tiền 2.708.000 đồng; ông Phạm Văn V số tiền 4.167.000 đồng; ông Huỳnh Văn V1 số tiền 3.125.000 đồng; bà Trần Thị Ái L số tiền 9.750.000 đồng; bà Nguyễn Thị Thanh T3 số tiền 12.500.000 đồng.
Buộc bị cáo Kiếu Xuân T phải trả lại cho 15 người vay tiền lãi vượt quá 20%/năm là 30.020.457 đồng, gồm: bà Nguyễn Ngọc N số tiền 5.294.064 đồng; bà Tiền Thủy T4 số tiền 16.349.315 đồng; bà ông Lê Văn N1 số tiền 934.247 đồng; bà Lê Thị Minh T1 số tiền 700.685 đồng; ông Vũ Văn Đ số tiền 871.963 đồng; ông Bùi Xuân Đ1 số tiền 544.977 đồng; bà Đoàn Thị G số tiền 233.562 đồng; bà Trần Thị N2 số tiền 186.849 đồng; ông Nguyễn Văn P số tiền 428.196 đồng; bà Ngô Minh C1 số tiền 1.712.785 đồng; ông Phạm Văn V số tiền 155.708 đồng; ông Huỳnh Văn V1 số tiền 350.342 đồng; ông Đào Văn T2 số tiền 1.323.516 đồng; bà Trần Thị Ái L số tiền 467.123 đồng; bà Nguyễn Thị Thanh T3 số tiền 467.123 đồng.
Tuyên tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 30.000.000 đồng bị cáo T đã đặt cọc do vi phạm nghĩa vụ bảo lãnh.
Tịch thu 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu đen (dạng bàn phím), số seri 1: 353454/04/951220/7.
tuyên tịch thu tiêu hủy 01 (một) thẻ Ngân hàng T13 số thẻ 9704079962436014 mang tên Kiếu Xuân T
Tuyên giao 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, biển kiểm soát: 11H1 - 198.59, số máy: JA3E-0716308 kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe cho Công an huyện Đ tiếp tục xác sinh làm rõ và xử lý theo thẩm quyền.
- Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Kiếu Xuân T phải nộp 200.000 đồng. Án phí có giá ngạch (làm tròn số) là 1.501.000 đồng
- Bị cáo Kiếu Xuân T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan còn lại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hương |
Bản án số 113/2024/HSST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (vụ án hình sự)
- Số bản án: 113/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tuyên bị cáo phạm tội
