1
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 113/2024/DS-ST
Ngày 28-9-2024.
V/v: Tranh chấp tiền cọc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Minh Mẫn.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/ Bà Nguyễn Hoa Lài
- 2/ Ông Trần Văn Thanh
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Hoàng Tuấn – Thư ký Toà án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
Ngày 28/9/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành A xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 04/2024/TLST-DS ngày 05 tháng 01 năm 2024 về tranh chấp đòi lại tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 205/2024/QĐXXST-DS ngày 22/8/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 153/2024/QĐST-DS ngày 10/9/2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hoàng A
- Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt
- - Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T
- Bà Nguyễn Thị T1
- Địa chỉ: ấp F, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng A trình bày:
Do quen biết nên ông có thỏa thuận nhận chuyển nhượng đất từ ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị T1. Để đảm bảo cho việc thực hiện hợp đồng chuyển nhượng, ngày 05/9/2022 hai bên đã ký kết hợp đồng đặt cọc với số tiền là 100.000.000 đồng, phía ông T có trách nhiệm làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất số I 143539, cấp ngày 11/11/1996 tại thửa đất số 45, tờ bản đồ số 01, diện tích 5.280m² tọa lạc tại ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Cần Thơ (nay là ấp F, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang) cho ông. Thời hạn đặt cọc là 04 tháng và phía ông T cam kết trong thời gian 03 tháng sẽ hoàn thành việc cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để thực hiện chuyển nhượng nhưng kể từ khi nhận tiền cọc cho đến nay phía ông T, bà T1 không thực hiện, ông cũng đã nhiều lần yêu cầu ông T trả lại tiền nhưng ông T không thực hiện. Nay ông khởi kiện yêu cầu ông T, bà T1 phải trả lại cho ông số tiền cọc đã nhận là 100.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi chậm trả kể từ ngày 05/12/2022 cho đến khi xét xử.
Quá trình tố tụng tòa án đã thực hiện tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho ông T, bà T1 nhưng phía ông T, bà T1 không đến Tòa nên chưa có ý kiến gì.
Tại phiên toà nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn tiếp tục vắng mặt nên không thể trình bày ý kiến gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp. Căn cứ theo đơn khởi kiện và yêu cầu của nguyên đơn về việc đòi lại số tiền cọc đã giao cho vợ chồng ông T, bà T1 để chuyển nhượng đất nên Toà xác định mối quan hệ pháp luật tranh chấp cần phải giải quyết trong vụ án là tranh chấp đòi lại tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về thẩm quyền giải quyết. Bị đơn trong vụ án là ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị T1 có nơi cư trú tại ấp F, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Theo quy định tại Điều 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
[3] Về xét xử vắng mặt: Ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị T1 là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt.
Về nội dung tranh chấp:
[1]. Ông Nguyễn Hoàng A khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị T1 trả số tiền 100.000.000 đồng đã nhận, ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị T1 chưa có ý kiến. Xét thấy, ông A kiện cho rằng giữa ông và gia đình ông T có thỏa thuận chuyển nhượng một phần đất tọa lạc tại ấp B, xã T, huyện C nên ngày 05/9/2022 ông đã giao cho vợ chồng ông T số tiền 100.000.000 đồng nhằm mục đích đặt cọc để thực hiện việc chuyển nhượng nhưng sao khi nhận tiền, ông T không thực hiện việc xin cấp lại quyền sử dụng đất cho gia đình ông nên không thể chuyển nhượng được và ông T cũng không trả lại số tiền đã nhận cho ông. Quá trình giải quyết Toà án có tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên hợp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải cho ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị T1 nhưng ông T, bà T1 không đến Toà tham dự và cũng không thể hiện ý kiến gì về việc khởi kiện của ông A, xem như ông T, bà T1 đã từ bỏ quyền chứng minh của mình. Căn cứ hợp đồng đặt cọc ngày 05/9/2022, tại mục 3 Điều 7 của hợp đồng thể hiện bên B đã nhận đủ số tiền từ bên A. Do đó việc ông A khởi kiện yêu cầu ông T, bà T1 trả lại cho ông số tiền 100.000.000 đồng là có căn cứ nên được chấp nhận.
[2] Về yêu cầu tính lãi chậm thanh toán: Căn cứ theo hợp đồng thì mục đích ông A giao tiền cho vợ chồng ông T là để đảm bảo thực hiện việc chuyển nhượng đất, theo đó ông T cam kết trong thời gian 03 tháng sẽ hoàn thành việc xin cấp đổi quyền sử dụng để tiếp tục giao kết hợp đồng nhưng kể từ ngày nhận tiền ông T không thực hiện đúng như cam kết là vi phạm thỏa thuận giữa các bên, vì vậy ông A yêu cầu ông T phải chịu số tiền lãi do chậm thanh toán đối với số tiền 100.000.000 kể từ ngày 05/12/2022 là có căn cứ và phù hợp với quy định nên được chấp nhận.
Ngày 05/12/2022 ông T đã nhận số tiền 100.000.000 đồng, cho đến ngày xét xử 28/9/2024 là 01 năm 09 tháng 24 ngày, lãi suất chậm thanh toán là 10%/năm. Do đó số tiền lãi ông T, bà T1 phải trả cho ông A là: 18.166.667 đồng.
[3]. Về án phí. Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Buộc ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị T1 phải chịu mức án phí có giá ngạch đối với số tiền buộc trả.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 91, Điều 92, Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng Điều 166 Bộ luật dân sự năm 2015.
Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Danh mục mức án phí kèm theo.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hoàng A. Buộc ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị T1 phải trả cho ông Nguyễn Hoàng A số tiền 118.166.667 (Một trăm mười tám triệu một trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi bảy) đồng. Trong đó số tiền vốn gốc là 100.000.000 đồng, số tiền lãi do chậm thanh toán là 18.166.667 đồng.
- Về án phí:
- Buộc ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị T1 phải chịu 5.908.000 (Năm triệu chín trăm lẻ tám nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Ông Nguyễn Hoàng A được nhận lại số tiền 7.500.000 (Bảy triệu năm trăm nghìn) đồng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0004338 ngày 05/01/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành A, tinmhr H.
- Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Mẫn |
Bản án số 113/2024/DS-ST ngày 28/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp tiền cọc
- Số bản án: 113/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp tiền cọc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu
