|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 113/2024/HS-ST Ngày: 27-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG - TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Văn Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Tạ Tất Hưng
2. Bà Nguyễn Thị Thanh Hương
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Ông Tạ Việt Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 101/2024/TLST - HS ngày 10 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 118/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Thiều Đức H, sinh ngày 07/9/2005; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thiều Đức T, sinh năm 1982 và bà Lê Thị T1, sinh năm 1987; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: 01, cụ thể: Ngày 02/02/2024 bị Công an huyện V xử phạt về hành vi tàng trữ hàng cấm theo Quyết định số 38/QĐ-XPHC. Hào chưa chấp hành xong việc nộp tiền phạt.
Nhân thân: 01, cụ thể: Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 107/2022/HSPT ngày 24/11/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt H 08 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm 04 tháng về tội “trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Tại thời điểm H thực hiện hành vi phạm tội H 16 tuổi 04 tháng 09 ngày. Do vậy, bản án trên đối với H không được coi là án tích (điểm b khoản 1 Điều 107 Bộ luật hình sự).
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 21/5/2024 đến ngày 29/5/2024 chuyển tạm giam đến nay có mặt tại phiên tòa (có mặt).
2. Nguyễn Chí T2, sinh ngày 19/6/2006; nơi cư trú: Thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Không xác định và bà Nguyễn Thanh T3, sinh năm 1976; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 21/5/2024 đến ngày 29/5/2024 chuyển tạm giam đến nay có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo T2: Bà Phan Thị Kim L – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh V (có mặt).
Người làm chứng: Anh Vũ Văn T4 (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 21/5/2024, Thiều Đức H và Nguyễn Chí T2 đang ở phòng ngủ của nhân viên tại tầng 03 quán karaoke X9 địa chỉ: Khu T thuộc thôn Đ, xã T, huyện V do ông Đỗ Văn T5, sinh năm 1976 ở tổ dân phố B, thị trấn T, huyện V làm chủ thì H nhận được cuộc gọi từ tài khoản messenger có tên “Lê Đại D” của một người đàn ông không quen biết gọi đến tài khoản messenger có tên “Hoang Hao" được cài đặt trên chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone Xs Max, màu ghi bên trong lắp sim thuê bao 0369.975.662 của H. Qua trao đổi, người đàn ông hỏi mua của H 02 viên ma túy kẹo. Do biết T2 có ma túy kẹo bán nên H nảy sinh ý định mua lại của T2 để bán kiếm lời, H báo giá lại cho người đó là 400.000 đồng/01 viên ma túy kẹo, người đàn ông đồng ý. Sau đó, H gửi mã QR số tài khoản 1045921856 mang tên THIEU DUC HAO mở tại Ngân hàng TMCP N của mình và bảo người đàn ông chuyển khoản cho H số tiền 800.000 đồng. Tuy nhiên, sau đó do chỉ có nhu cầu mua 01 viên ma túy kẹo nên người này gọi lại qua tài khoản messenger cho H để mua 01 viên ma tuý kẹo đồng thời chuyển khoản trước cho H số tiền 300.000₫ từ số tài khoản 0343443437 mang tên LE DAI DƯƠNG mở tại Ngân hàng TMCP Q, hai bên thoả thuận gặp nhau tại khu vực A thuộc tổ dân phố B, thị trấn T để thanh toán số tiền 100.000 đồng còn lại. Sau đó H nói với T2 “Có khách, để tạo một viên", T2 hiểu ý H muốn hỏi mua của T2 01 viên ma túy kẹo để đi bán kiếm lời, do có sẵn 01 viên ma tuý kẹo nên T2 đồng ý và nói "Ba trăm", H nói "Chuyển khoản sau", T2 đồng ý. Sau khi thoả thuận xong, H điều khiển xe mô tô nhân hiệu DAEEHAN, loại DRIM 50 màu nâu đã cũ gần BKS: 88AB-712.89 đi đến khu vực A, thị trấn T. Tại đây, một người đàn ông không quen biết đi đến gặp và đưa cho H 01 tờ tiền polime mệnh giá 100.000 đồng, H hiểu ý đó là người đã hỏi mua ma túy kẹo của mình nên cầm tiền và hẹn người đó khi nào có ma túy sẽ thông báo lại rồi điều khiển xe mô tô đi về quán “Tiệm nét bất ổn" ở tổ dân phố P, thị trấn T, huyện V để chơi điện tử, uống nước, mua đồ ăn hết số tiền 50.000 đồng, đổ xăng hết 50.000 đồng. Tiếp đó H chuyển khoản số tiền 300.000 đồng đến số tài khoản 856203939 mang tên NGUYEN CHI THIEN mở tại Ngân hàng TMCP Q của Nguyễn Chí T2, để trả tiền mua 01 viên ma túy kẹo như đã thỏa thuận trước đó rồi điều khiển xe mô tô về quán K1, đi lên phòng ngủ để gặp T2. Tại đây T2 đưa cho H 01 viên ma túy kẹo màu xám hình lựu đạn, H gói viên ma túy kẹo đó vào tờ giấy ăn màu trắng, cất vào bên trong túi quần bên trái phía sau đang mặc rồi gọi điện đến tài khoản messenger mang tên “Lê Đại D" và hẹn người này đến khu vực A, thị trấn T để giao ma túy. Khoảng 14h30' cùng ngày, H điều khiển xe mô tô BKS: 88AB 712.89 đi ra điểm hẹn. Khi H đang đợi đối tượng mua ma tuý thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang. Tang vật thu giữ, tạm giữ:
- Thu bên trong gói giấy ăn màu trắng được cất trong túi quần bên trái phía sau H đang mặc 01 viên nén màu xám hình dáng quả lưu đạn, được niêm phong ký hiệu A1.
- T6 trong túi quần bên trái phía trước H đang mặc 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone Xs Max màu ghi đã cũ, bị nứt vỡ tại mặt sau, bên trong lắp sim thuê bao 0369.975.662.
- Tạm giữ của H 01 xe mô tô nhãn hiệu DAEEHAN loại DRIM 50 màu nâu đã cũ gắn BKS: 88AB-712.89.
Căn cứ vào lời khai của H Cơ quan điều tra đã triệu tập làm việc với Nguyễn Chí T2. Tại Cơ quan điều tra, T2 đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như nêu trên. Quá trình làm việc đã thu giữ của T2 01 điện thoại di động nhân hiệu LG loại V60 màu xanh đã cũ bên trong lắp sim thuê bao 0334.525.747 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 7 màu đen đã cũ bên trong lắp sim thuê bao 0332.111.305.
Ngày 21/5/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện V tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của H và T2 tại thôn Đ, xã T, huyện V. Quá trình khám xét không phát hiện thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài sản gì.
Ngày 21/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 979 trưng cầu phòng K2 Công an tỉnh V giám định đối với mẫu vật ký hiệu A1.
Ngày 25/5/2024, Phòng K2 - Công an tỉnh V có bàn Kết luận giám định số 1469/KL-KTHS, xác định:
“01 viên nén màu xám hình dáng quả lựu đạn có trong mẫu ký hiệu A1 là ma túy, loại MDMA, có khối lượng: 0,5578g.
MDMA là chất ma túy nằm trong Danh mục 1, mục 1B STT 11 Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ".
Phòng K2 - Công an tỉnh V đã hoàn trả trực tiếp đối tượng giám định còn lại sau giám định cho cơ quan trưng cầu gồm: A1 = 0,5146 gam mẫu cùng toàn bộ bao gói được niêm phong trong một bao gói giấy trên mép dán giáp lai có chữ ký của người tham gia đóng gói, niêm phong và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K2 - Công an tỉnh V.
Cơ quan điều tra đã thông báo kết luận giám định trên cho Thiều Đức H và Nguyễn Chí T2. T2, H đồng ý và không có ý kiến gì.
Căn cứ vào hành vi phạm tội của Nguyễn Chí T2, ngày 29/5/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện V ra Lệnh phong tỏa tài khoản số 382 phong tỏa số tiền 337.389 đồng trong tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng TMCP Q (MB) của T2. Ngày 04/6/2024, Cơ quan điều tra đã phối hợp với Ngân hàng TMCP Q (MB)- Chi nhánh V tiến hành phong tỏa số tiền trên.
Về nguồn gốc ma túy Nguyễn Chí T2 bán cho Thiều Đức H, quá trình điều tra, T2 khai nhận: T2 mua được của một người đàn ông lái xe taxi không quen biết hay đỗ xe cạnh quán K1 tại khu trung tâm thương mại và nhà ở P ở thôn Đ, xã T với giá 200.000 đồng vào tối ngày 20/5/2024. Sau khi mua xong T2 đem về cất giấu ở đầu giường kê trong phòng ngủ của T2 tại tầng 3 của quán X9 với mục đích nếu ai hỏi mua ma túy kẹo sẽ đem bán để kiếm lời. Chiều ngày 21/5/2024 T2 bán viên ma túy kẹo cho H với giá 300.000 đồng thu lời 100.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số: 108/CT-VKSVT ngày 09/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo Thiều Đức H và Nguyễn Chí T2 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Thiều Đức H và Nguyễn Chí T2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Thiều Đức H từ 02 năm 03 tháng tù đến 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 21/5/2024).
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 90; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Chí T2 từ 01 năm 06 tháng tù đến 01 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 21/5/2024).
Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Ngoài ra, còn đề nghị xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Chí T2 đưa ra quan điểm bào chữa cho bị cáo như sau: Về tội danh hoàn toàn đồng ý với tội danh và điều luật do Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố đối với bị cáo T2. Về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và độ tuổi của bị cáo để xử phạt bị cáo T2 mức hình phạt nhẹ nhất.
Bị cáo Nguyễn Chí T2 đồng ý với quan điểm của người bào chữa và không có ý kiến bổ sung gì khác. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo mức án thấp nhất do pháp luật quy định.
Người làm chứng là anh Vũ Văn T4 vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai tại cơ quan điều tra phù hợp với nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.
[2]. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Thiều Đức H và Nguyễn Chí T2 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường. Xét lời nhận tội của các bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ được; phù hợp với kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở chứng cứ khách quan để kết luận: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 21/5/2024, Thiều Đức H đang ở phòng ngủ của nhân viên tại tầng 03 quán karaoke X9 tại Khu T và nhà ở P thuộc thôn Đ, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc cùng với Nguyễn Chí T2 thì có 01 người đàn ông sử dụng tài khoản messenger mang tên “Lê Đại D" gọi đến tài khoản messenger của H hỏi mua ma túy ma túy kẹo. Do biết T2 có ma túy nên H hỏi mua của T2 01 viên ma túy kẹo với giá 300.000 đồng/01 viên để bán lại cho người này với giá 400.000 đồng/01 viên để kiếm lời. Khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi mua được 01 viên ma túy kẹo của T2, H điều khiển xe mô tô BKS 88AB-712.89 đến khu vực A, thị trấn T để bán ma túy kẹo cho người đàn ông trên. Khi H đang đứng chờ đối tượng mua ma túy thì Công an huyện V bắt quả tang H đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với mục đích để bán kiếm lời. Vật chứng thu giữ: 01 viên ma túy theo kết luận giám định là MDMA dạng kẹo có khối lượng 0,5578 gam, 03 điện thoại di động các loại bên trong lắp sim thuê bao và 01 xe mô tô BKS 88AB-712.89.
[3]. Hành vi mua bán trái phép 0,5578 gam ma túy loại MDMA của Nguyễn Chí T2 và Thiều Đức H nhằm mục đích bán kiếm lời của H và T2 đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự
Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự quy định:
"1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm."
[4]. Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người và là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm nguy hiểm khác. Vì vậy, cần phải xử phạt các bị cáo mức hình phạt nghiêm, buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù giam một thời gian nhất định nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân biết chấp hành pháp luật và phòng ngừa chung trong nhân dân.
[5]. Xét nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thấy rằng:
Đối với bị cáo H: Bị cáo là người có nhân thân xấu, tại Bản án hình sự phúc thẩm số 107/2022/HSPT bị cáo đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử 08 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm 04 tháng về tội “trộm cắp tài sản”. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 04 tháng 09 ngày nên theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 107 Bộ luật hình sự bản án trên đối với bị cáo không được coi là án tích. Bản thân bị cáo mặc dù đã bị đưa ra xét xử nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà tiếp tục đến ngày 02/02/2024 bị Công an huyện V xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi tàng trữ hàng cấm, bị cáo chưa chấp hành nộp phạt. Điều đó thể hiện bị cáo là người coi thường pháp luật, không có ý thức tu dưỡng và rèn luyện bản thân. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Đối với bị cáo T2: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người chưa đủ 18 tuổi nên bị cáo được áp dụng quy định tại Điều 90, Điều 91 và Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
[6]. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản và đang bị tạm giam. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[7]. Về xử lý vật chứng:
- Đối với mẫu vật còn lại ký hiệu A1=0,5146 gam mẫu cùng toàn bộ bao gói hoàn trả sau giám định. Đây là chất cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone Xs Max màu ghi đã cũ, bị nứt vỡ tại mặt sau, bên trong lắp sim thuê bao 0369.975.662 thu giữ của Thiều Đức H. Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định đó là chiếc điện thoại và sim thuê bao của H, H đã sử dụng chiếc điện thoại trên để liên hệ trao đổi giao dịch mua bán ma túy với người có tài khoản messenger mang tên “Lê Đại D" và Nguyễn Chí T2. Do vậy, cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước đối với chiếc điện thoại và tịch thu tiêu hủy sim thuê bao nêu trên.
- Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu LG loại V60 màu xanh đã cũ bên trong lặp sim thuê bao 0334.525.747 và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 7 màu đen đã cũ bên trong lắp sim thuê bao 0332.111.305 thu giữ của Nguyễn Chí T2. Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định đó đều là tài sản của T2, T2 đã sử dụng hai chiếc điện thoại trên để liên hệ, trao đổi qua tài khoản mạng xã hội để mua bán ma túy với H, còn đối với hai chiếc sim thuê bao trên T2 không sử dụng liên quan đến việc liên lạc, trao đổi mua bán ma túy. Tại phiên tòa, bị cáo đề nghị tịch thu bán phát mại sung công quỹ nhà nước đối với hai chiếc điện thoại và đề nghị tịch thu tiêu hủy hai sim thuê bao trên. Do vậy, cần tịch thu bán phát mại sung công quỹ nhà nước đối với hai chiếc điện thoại và tịch thu tiêu hủy đối với hai sim thuê bao có đặc điểm nêu trên.
- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu DAEEHAN loại DRIM 50 màu nâu đã cũ, gắn BKS: 88AB-712.89 tạm giữ của Thiều Đức H, quá trình điều tra xác định chiếc xe đó là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1984; nơi cư trú: Thôn T, xã B, huyện V. Sáng ngày 20/5/2024, con trai anh K là Nguyễn Tuấn H1, sinh năm 2006 có sử dụng chiếc xe trên của anh K để làm phương tiện đi lại. Buổi tối ngày 20/5/2024, khi đi chơi cùng nhau thì H đã hỏi mượn H1 chiếc xe mô tô trên để đi giải quyết công việc cá nhân, H1 đồng ý. Việc H sử dụng chiếc xe trên làm phương tiện đi bán trái phép chất ma túy thì anh K và H1 hoàn toàn không biết, không liên quan gì. Do đó ngày 30/6/2024 Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho anh K là phù hợp.
Đối với số tiền 337.389 đồng trong trong tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng TMCP Q (MB) của T2, quá trình điều tra xác định có 300.000 đồng là tiền H chuyển khoản cho T2 để mua ma tuý. Do vậy, cần tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 300.000 đồng. Trả lại Thiều Đức H 37.389 đồng nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Đối 100.000 đồng H thu lời bất chính từ việc bán trái phép chất ma tuý cho đối tượng có tài khoản messenger "Lê Đại D". Quá trình điều tra xác định H đã sử dụng tiêu sài cá nhân hết số tiền trên. Do vậy, cần truy thu đối với H số tiền 100.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.
[8]. Về các vấn đề khác:
Đối với người đàn ông lái taxi hay đỗ xe cạnh quán K1 có bán ma túy cho H (theo lời khai của H). Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành làm việc với Công an xã T để xác minh nhưng chưa xác định được đối tượng nào làm nghề lái xe tại khu vực Khu trung tâm thương mại và nhà ở P có biểu hiện vi phạm pháp luật liên quan đến ma túy. Do vậy, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xác minh, khi có căn cứ sẽ xử lý theo quy định pháp luật.
Đối với người đàn ông có tên tài khoản messenger "Lê Đại D" sử dụng số tài khoản 0343443437 mang tên LE DAI DUONG mở tại Ngân hàng TMCP Q (M) đã liên hệ mua ma tuý của Thiều Đức H. Quá trình điều tra xác định chủ số tài khoản ngân hàng trên là Lê Đại D, sinh năm 2006 trú tại tổ dân phố T, thị trấn T, huyện V. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, triệu tập D nhiều lần nhưng D thường xuyên vắng mặt tại địa phương, hiện không xác định được D đang ở đâu, làm gì. Ngoài ra, Cơ quan điều tra đã cho bị can H nhận dạng đối với Lê Đại D nhưng H không nhận ra. Do vậy, Cơ quan điều tra tiếp tục tiến hành điều tra xác minh, khi có căn cứ sẽ xử lý theo quy định pháp luật.
Đối với ông Đỗ Văn T5 là chủ quán K1. Quá trình điều tra xác định ông T5 không biết, không liên quan gì đến việc mua bán trái phép chất ma túy của H và T2. Do vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với ông T5 là phù hợp.
[9]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Thiều Đức H và Nguyễn Chí T2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Thiều Đức H 02 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 21/5/2024).
Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 90, Điều 91, Điều 101, Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Chí T2 01 năm 07 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 21/5/2024).
Về các vấn đề khác: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại ký hiệu A1=0,5146 gam mẫu cùng toàn bộ bao gói hoàn trả sau giám định.
- Tịch thu bán phát mại sung công quỹ Nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone Xs Max màu ghi đã cũ, bị nứt vỡ tại mặt sau; 01 chiếc điện thoại di đông nhãn hiệu LG loại V60 màu xanh đã cũ và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 7 màu đen đã cũ.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 sim thuê bao 0369.975.662, 01 sim thuê bao 0334.525.747 và 01 sim thuê bao 0332.111.305.
- Tiếp tục phong tỏa số tiền 337.389 đồng trong tài khoản ngân hàng số [...] của Ngân hàng TMCP Q (MB) - Chi nhánh V để đảm bảo số tiền bị tịch thu và đảm bảo nghĩa vụ thi hành án của bị cáo Nguyễn Chí T2.
(Toàn bộ vật chứng tịch thu bán phát mại và tiêu hủy của vụ án có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 19/9/2024 giữa Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Tường).
Các bị cáo Thiều Đức H và Nguyễn Chí T2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm các bị cáo có mặt quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận: - VKSND huyện Vĩnh Tường; - Công an huyện Vĩnh Tường; - THADS huyện Vĩnh Tường; - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; - Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc; - Sở tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc; - Bị cáo; - Lưu HS + VP; |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Lương Văn Tuấn |
Bản án số 113/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 113/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Thieu Duc H và đồng phạm "Mua bán trái phép chất ma túy"
