|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ TỈNH LAI CHÂU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 113/2024/HS-ST
Ngày: 17 - 9 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Huệ;
Các hội thẩm nhân dân: Ông Lý Minh Quý
Ông Xè A Gia
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Khuyên - Thư ký TAND huyện Phong Thổ,
tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tham gia phiên tòa: Bà
Nguyễn Thị Xuân - Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 118/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 118/2024/QĐXXST-HS, ngày 06 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn P; sinh ngày: 18/11/1990, tại huyện S, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: bản P, xã P, huyện S, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 2/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lò Văn P1 (đã chết); Con bà: Lò Thị G, sinh năm 1965; Vợ: Lò Thị T, sinh năm 1989; Con: bị cáo có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/5/2024 đến ngày 29/5/2024 bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L. Đến ngày 12/9/2024 chuyển đến tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện P tạm giam cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo: hồi 12 giờ 45 phút, ngày 20/5/2024, tại bản Huổi Luông 3, xã H, huyện P, tỉnh Lai Châu, tổ công tác Công an xã H, huyện P đang làm nhiệm vụ thì phát hiện, bắt quả tang Lò Văn P đang tàng trữ trái phép 01 gói Heroine trong mũ lưỡi trai đội trên đầu, có khối lượng 0,17 gam.
Về nguồn gốc số ma túy trên, P khai nhận tại Cơ quan điều tra: 01 gói ma túy, loại Heroine mà P có được là do: vào khoảng 09 giờ 00 phút, ngày 20/5/2024, Lò Văn P đi bộ từ nhà lên bản H, xã H, huyện P, tỉnh Lai Châu tìm mua Heroine để sử dụng. Khi đến nơi, P gặp một người đàn ông dân tộc T1 không rõ lai lịch, P hỏi mua Heroine và đưa cho người đàn ông đó 900.000 đồng. Người đàn ông nhận tiền rồi bảo P đi về phía trước đến chỗ cột mốc đầu tiên bên trái đường (dưới cột mốc có vỏ chai nước bằng nhựa) lấy gói Heroine để ở đỉnh cột. Phơ đi đến chỗ cột mốc theo hướng dẫn của người đàn ông lấy được 01 gói Heroine (được gói bằng 02 mảnh nilon màu xanh) cất giấu vào trong mũ lưỡi trai đội trên đầu rồi đi bộ về, mục đích Phơ để sử dụng và không cho ai biết. Vật chứng Công an thu giữ của P khi bắt quả tang: 01 gói Heroine (do P tự giao nộp), 02 mảnh nilon màu xanh; 02 phong bì niêm phong đã mở; 01 chiếc mũ lưỡi trai màu đen; 01 bơm tiêm đã qua sử dụng; 01 vỏ chai nước bằng nhựa.
Tại Kết luận giám định số 35/KL-GĐVV ngày 20/5/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc và Kết luận giám định số 598/KL-KTHS ngày 23/5/2024 của Phòng K Công an Tỉnh L kết luận: một gói chất bột màu trắng được gói ngoài bằng mảnh nilon màu xanh, thu giữ của Lò Văn P có khối lượng là 0,17 gam gửi giám định là ma túy, loại Heroine.
Cáo trạng số 72/CT-VKS, ngày 29/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu đã truy tố Lò Văn P về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: qua xét hỏi, thẩm vấn tại phiên tòa, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lò Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự; áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lò Văn P từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, đề nghị xử lý án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về biện pháp tư pháp: áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 0,11 gam Heroine còn lại sau giám định; 02 mảnh nilon màu xanh; 02 phong bì niêm phong đã mở; 01 chiếc mũ lưỡi trai màu đen; 01 bơm tiêm đã qua sử dụng; 01 vỏ chai nước bằng nhựa.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn P đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố đối với bị cáo và không có ý kiến, khiếu nại về cáo trạng, các quyết định, kết luận tố tụng có trong hồ sơ vụ án, cũng như không tranh luận với quan điểm của Viện kiểm sát tại phiên tòa.
Tại lời nói sau cùng bị cáo nhận thức hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của bản thân và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, thể hiện: vào hồi 12 giờ 45 phút ngày 20/5/2024, tại bản Huổi Luông 3, xã H, huyện P, tỉnh Lai Châu, Lò Văn P đang thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,17 gam, mục đích để sử dụng thì bị Công an xã H phát hiện, bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng.
Về nguồn gốc ma túy, Lò Văn P khai mua của người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch, do đó Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, làm rõ. Lời khai nhận tội của bị cáo P tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo Lò Văn P là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn, ý thức được điều đó nhưng để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định hành vi của bị cáo Lò Văn P đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Về nhân thân: bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người dân tộc thiểu số, trình độ học vấn 2/12, nhận thức pháp luật còn nhiều hạn chế. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo P không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Hội đồng xét xử trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một khoảng thời gian nhất định, đồng thời cần có một mức hình phạt phù hợp nhằm răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
[4] Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 điều 249 Bộ luật hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng các hình phạt bổ sung là phạt tiền, tịch thu tài sản... Tuy nhiên theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, mặt khác bị cáo còn phải chấp hành án phạt tù nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về vật chứng của vụ án: Đối với 0,17 gam Heroine thu giữ của Lò Văn P, Cơ quan điều tra đã trích 0,06 gam gửi giám định chất ma túy (không hoàn lại mẫu vật) nên Hội đồng xét xử không xem xét. Vật chứng còn lại của vụ án gồm: 0,11gam Heroine còn lại sau giám định, 02 mảnh nilon màu xanh, 02 phong bì niêm phong đã mở, 01 chiếc mũ lưỡi trai màu đen, 01 bơm tiêm đã qua sử dụng, 01 vỏ chai nước bằng nhựa. Xét thấy, vật chứng trên là vật cấm tàng trữ, lưu hành, và là công cụ phạm tội, vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[6] Đối với đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tại phiên tòa là có căn cứ, không oan sai, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Về án phí: tại phiên tòa, bị cáo có ý kiến xin miễn án phí hình sự sơ thẩm. Căn cứ các Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Quyết định số: 861/QĐ-TTg, ngày 04/6/2021 của Thủ tướng Chính phủ: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tuyên bố bị cáo Lò Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Về hình phạt: xử phạt bị cáo Lò Văn P 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/5/2024. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng: tịch thu tiêu hủy 0,11 gam Heroine, 02 mảnh nilon màu xanh, 02 phong bì niêm phong đã mở, 01 chiếc mũ lưỡi trai màu đen, 01 bơm tiêm đã qua sử dụng, 01 vỏ chai nước bằng nhựa.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng hồi 09 giờ 00 phút ngày 29/8/2024 giữa Công an huyện P, tỉnh Lai Châu và Chi cục thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu).
- Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
- Về quyền kháng cáo: bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Huệ |
Bản án số 113/2024/HS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Số bản án: 113/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: .
