Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NGẠN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 113/2024/HS-ST

Ngày: 06-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Nhường.

Các Hội thẩm nhân dân:Ông Vũ Ngọc Côn .

Ông Giáp Văn Phẩm.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Minh là Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Đào Duy Đông, Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 102/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 115/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 8 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Thị T, sinh ngày 01 tháng 06 năm 1970; tên gọi khác: Không; quê quán: huyện L, tỉnh Bắc Giang; nơi thường trú: tổ dân phố M, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nơi ở: Tổ dân phố Ồ, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S (đã chết) và bà Lê Thị G, sinh năm 1934; có chồng là Vương Văn T1 và 03 con;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/4/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện L. Có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Vương Văn T1, sinh ngày 14 tháng 04 năm 1963; tên gọi khác: Không; quê quán: huyện L, tỉnh Bắc Giang; nơi thường trú: tổ dân phố M, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nơi ở: tổ dân phố Ồ, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 2/10; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vương Văn T2 (đã chết) và bà Lục Thị T3 (đã chết); có vợ là Nguyễn Thị T và 03 con;

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại bản án hình sự phúc thẩm số 73/2008/HSPT ngày 16/6/2008 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, xử phạt Vương Văn T1 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thơm chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 01/9/2011, đã chấp hành xong tiền án phí và phạt bổ sung. Tính đến thời điểm phạm tội này bị cáo đã được xóa án tích.

Bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/4/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Lương Văn T4, sinh năm 1995 (vắng mặt). Địa chỉ: Tổ dân phố M, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  2. Anh Hoàng Văn Q, sinh năm 1978 (vắng mặt). Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  3. Chị Vương Thị T5, sinh năm 1994 (có mặt). Địa chỉ: Thôn H, xã H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh.

- Người làm chứng:

  1. Anh Dương Văn H, sinh năm 1979 (vắng mặt). Địa chỉ: Thôn C, xã Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  2. Chị Triệu Thị T6, sinh năm 2005 (vắng mặt). Địa chỉ: Tổ dân phố Ồ, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ, ngày 22/4/2024, Lương Văn T4 gọi điện thoại cho Nguyễn Thị T nhờ T mua hộ ma túy Heroine để sử dụng nhưng T nói với T4 bây giờ khó mua và bảo T4 có gì mai lên nhà T. Đến 13 giờ 30 phút ngày 23/4/2024 Thường rủ Dương Văn H lên nhà T ở tổ dân phố Ồ, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang chơi, H đồng ý. Khi đến nhà T thì T4 và H gặp Vương Văn T1 (là chồng T) đang ở nhà còn Tuất lúc này đang đi thăm người ốm ở thành phố B, không có ở nhà. Thường và H ngồi uống nước cùng T1 ở quán nước trước cửa nhà T1. Trong lúc nói chuyện, T4 nói với T1 là chờ Tuất về để mua ma túy sử dụng. Khoảng 16 giờ cùng ngày T1 gọi điện thoại cho T hỏi T về chưa, có hai cháu đến chơi rồi T1 đưa điện thoại cho T4 nói chuyện với T, T4 cầm điện thoại T1 đưa và nói với T mua hộ 200.000 đồng tiền ma túy, T đồng ý. Khoảng 16 giờ cùng ngày, T đi xe ô tô buýt từ thành phố B về đến B huyện L. Tại đây T nhờ một người đàn ông không quen biết làm nghề lái xe ôm ở cổng bến xe mua hộ 200.000 đồng tiền ma túy H1, người đàn ông đồng ý và bảo T đứng đợi, còn người đàn ông điều khiển xe mô tô đi. Một lúc sau người đàn ông đó quay lại đưa cho T 02 (hai) đoạn ống nhựa màu cam, được hàn kín hai đầu, bên trong chứa ma túy Heroine. Tuất cầm số ma túy người đàn ông đưa và lấy xe mô tô của T gửi ở cổng bến xe trước đó đi về nhà. Khoảng 16 giờ 10 phút cùng ngày, khi T về đến nhà thì thấy T4 và H đang ngồi uống nước với T1 ở cửa, T đi vào nhà thì T4 đứng dậy đi theo vào. Khi vào đến phòng khách thì T4 lấy tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng trong túi quần ra đưa cho T, T cầm tiền và đưa cho T4 01 (một) đoạn ống nhựa màu cam, được hàn kín hai đầu, bên trong chứa ma túy Heroine, đoạn ống nhựa chứa ma túy H1 còn lại Tuất vẫn cầm trên tay. Lúc này H và T1 cũng đi vào chỗ T4 đứng thì T4 nói với T “Con vật lắm cho con lên phòng chơi nhờ” (tức là sử dụng ma túy), T đồng ý và nói với T4 “Lên tầng 2 tiện xem nhà cô vừa sửa, lên mà xem”. Nghe T nói vậy thì T4 đi lên tầng 2 của nhà T, T1 và H cũng đi lên cùng. Còn T mang đoạn ống nhựa chứa ma túy H1 còn lại ra để ở cạnh máy ép nước mía ngoài cửa nhà mục đích để bán cho các đối tượng nghiện, rồi T lấy phim chụp phổi của T1 mang lên tầng 2 đưa cho T4 và H xem, sau đó T đi xuống tầng 1. Lúc này tại phòng thờ ở tầng 2, T4 hỏi xin Thơm mảnh giấy bạc để sử dụng ma túy, T1 lấy mảnh giấy bạc tại phòng ngủ của mình đưa cho T4. T4 cầm mảnh giấy bạc T1 đưa rồi dùng bật lửa ga đốt một đầu đoạn ống nhựa, đổ ma túy trong ống nhựa ra mảnh giấy bạc và bật lửa hơ dưới mảnh giấy bạc để sử dụng bằng hình thức hít. Khi T4 sử dụng ma túy thì T1 nằm trên giường, H ngồi ở sát cửa ra ban công tầng 2. Đến 16 giờ 20 phút cùng ngày, Tổ công tác của phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện L, tỉnh Bắc Giang phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Thị T và Vương Văn T1 đang có hành vi chứa chấp Lương Văn T4 sử dụng trái phép chất ma túy tại nơi ở của mình. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T1, T và T4, thu giữ trên nền phòng phía bên trái cầu thang tầng 2 (phòng thờ) 01 mảnh giấy bạc, hai mặt đều có màu trắng bạc, trên một mặt có bám dính chất bột màu nâu đen; 01 bật lửa màu đỏ, 01 đoạn ống nhựa màu cam được hàn kín một đầu, một đầu hở, được niêm phong vào phong bì dán kín ký hiệu “QT”.

Cùng ngày 23/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Thị T, Vương Văn T1 tại tổ dân phố Ồ, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang, đồng thời tiến hành xét nghiệm nước tiểu của Lương Văn T4, Vương Văn T1 và Nguyễn Thị T.

- Kết quả khám xét thu giữ: 01 (một) cuộn giấy bạc có hai mặt màu trắng bạc đã qua sử dụng; 03 (ba) mảnh giấy bạc; 03 (ba) dao tem đã qua sử dụng; 01 (một) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa viền màu đỏ được niêm phong trong phong bì ký hiệu “KX1”; 05 (năm) đoạn ống hút (loại ống hút nước) trong đó có 03 (ba) đoạn màu hồng, 01 (một) đoạn màu xanh, 01 (một) đoạn màu đen đã qua sử dụng; 01 (một) lọ nhựa màu trắng có nắp đậy màu trắng, bên trong có 08 (tám) đoạn ống nhựa trong đó có 07 (bẩy) đoạn đều được hàn kín một đầu, một đầu hở (03 (ba) đoạn màu trắng, 01 (một) đoạn màu xanh có đường kẻ màu trắng, 01 (một) đoạn màu trắng có đường kẻ màu hồng, 01 (một) đoạn màu đen, 01 (một) đoạn màu vàng) và 01 (một) đoạn ống nhựa màu vàng hở hai đầu được niêm phong trong phong bì ký hiệu “KX2”; 03 (ba) mảnh dao tem đã qua sử dụng; 01 (một) đoạn ống nhựa màu cam được hàn kín hai đầu bên trong chứa chất cục bột màu trắng nghi là ma túy được niêm phong trong phong bì ký hiệu “KX3”; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, màu đen, số Xeri: 355904059563621 đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng được niêm phong trong phong bì ký hiệu “KX4”; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, màu đen, có số Serial: 351869077812777 đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu Vàng màn hình bị vỡ nứt phía dưới, số IMEI 1: 862651039398497 đã qua sử dụng; 01 (một) túi màu vàng trắng có chữ “Tiệm Trà Bi Đắng” có quai sách bên trong có: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone X, màu trắng có số Seri: DX8QWDEZFFG8 màn hình bị vỡ phức tạp đã qua sử dụng; 01 (một) chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Thị T; 02 (hai) căn cước công dân mang tên Nguyễn Thị T; số tiền 1.180.000₫ (một triệu một trăm tám mươi nghìn đồng) được niêm phong trong phong bì ký hiệu “KX5”; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu XINHA, màu Đen, số khung 062707, số máy 00062707, biển kiểm soát: 98K1-3218 đã qua sử dụng.

- Kết quả xét nghiệm nước tiểu: Lương Văn T4 dương tính với chất ma túy M và ma túy M1; Vương Văn T1 dương tính với chất ma túy M1; Nguyễn Thị T âm tính với ma túy.

Ngày 24/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Quyết định trưng cầu giám định tang vật thu giữ niêm phong trong bì thư ký hiệu “QT”, “KX3”. Tại Kết luận giám định số 942/KL-KTHS, ngày 27/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: “Trong 01 (một) phong bì có ký hiệu “QT” được dán kín, niêm phong gửi giám định: Chất màu nâu đen bám dính trên một mặt 01 (một) mảnh giấy bạc có hai mặt màu trắng bạc là ma túy, loại Heroine (H), không xác định được trọng lượng. Không tìm thấy chất ma túy trong 01 (một) đoạn ống nhựa màu cam một đầu được hàn kín, một đầu hở. Trong 01 (một) phong bì có ký hiệu “KX3” được dán kín, niêm phong gửi giám định: Chất cục bột màu trắng đựng trong 01 (một) đoạn ống nhựa màu cam được hàn kín hai đầu là ma tuý, có khối lượng 0,039 gam, loại Heroine (H)”.

Trong các ngày 29, 30/5/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiến hành cho Nguyễn Thị T nhận dạng anh Lương Văn T4; cho anh Lương Văn T4 và anh Dương Văn H nhận dạng Nguyễn Thị T và Vương Văn T1 qua bản ảnh. Kết quả: T nhận ra anh Lương Văn T4 là người mua ma túy của T; anh T4 nhận ra T là người bán ma túy và cho sử dụng ma túy tại nhà của T, T1 là người cho anh T4 sử dụng ma túy tại nhà của T1; anh H nhận ra T là người bán ma túy cho anh T4 và cho anh T4 sử dụng ma túy tại nhà của T, T1 là người cho anh T4 sử dụng ma túy tại nhà của T1.

Quá trình điều tra, Vương Văn T1 khai bản thân T1 dương tính với ma túy là do trước đó T1 đã sử dụng ma túy mua của Hoàng Văn Q. Ngày 01/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiến hành khám xét nơi ở của Hoàng Văn Q, thu giữ số tiền 1.300.000đ (một triệu ba trăm nghìn đồng); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A70, màu tím, bên trong máy lắp sim số 0347.320.395, số IMEI 1: 355915102450181/01, IME1 2: 355916102450184/01 máy đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu đen, bên trong máy nắp sim số 0376.637.938, số IMEI 1: 865480065785642/00; số IMEI 2: 865480065785659/00 máy đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, màu đen, trong máy không nắp sim đã qua sử dụng, máy không lên nguồn. Tại cơ quan điều tra Hoàng Văn Q không thừa nhận bán ma túy cho Vương Văn T1, cơ quan điều tra tiến hành cho T1 và Q đối chất, kết quả hai bên vẫn giữ nguyên lời khai. Ngoài lời khai của T1, không còn tài liệu chứng cứ nào khác xác định Quảng bán ma túy cho T1. Do đó cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với Hoàng Văn Q.

Đối với người đàn ông xe ôm đã mua ma túy cho Nguyễn Thị T, quá trình điều tra T khai không quen biết và cũng không biết tên tuổi, địa chỉ của người này.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lương Văn T4 và Vương Văn T1, ngày 17/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T4 và T1 về hành vi nêu trên.

Quá trình điều tra, Nguyễn Thị T khai ngày 23/4/2024 khi T bị bắt đưa về Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B, T bị 02 cán bộ của Công an tỉnh B dùng tay tát vào mặt, đánh vào cánh tay trái của T và bóp khóa số 8 khiến T bị choáng, bị bầm tím ở cánh tay, cổ tay trái. Ngày 15/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã chuyển Công an tỉnh B giải quyết theo thẩm quyền.

Về vật chứng của vụ án:

+ Đối với số tiền 1.180.000 đồng thu giữ trong quá trình khám xét nơi ở của Nguyễn Thị T, xác định trong đó có 200.000 đồng là tiền bán ma túy cho anh T4, còn 01 túi màu vàng trắng có chữ “Tiệm Trà Bi Đắng” có quai sách bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone X và số tiền 980.000 đồng là của con gái T là Vương Thị T5; số tiền 1.300.000₫ (một triệu ba trăm nghìn đồng); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A70, màu tím, bên trong máy lắp sim số 0347.320.395, số IMEI 1: 355915102450181/01, IMEI 2: 355916102450184/01 máy đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu đen, bên trong máy nắp sim số 0376.637.938, số IMEI 1: 865480065785642/00; số IMEI 2: 865480065785659/00 máy đã qua sử dụng và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, màu đen, trong máy không nắp sim đã qua sử dụng, máy không lên nguồn đã thu giữ của anh Hoàng Văn Q. Quá trình điều tra xác định số đồ vật, tài sản này thuộc sở hữu của chị T5, anh Q, không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo. Ngày 17/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp.

+ Đối với số tiền 200.000 đồng; 01 (một) mảnh giấy bạc, hai mặt đều tráng bạc như nhau, một mặt có chất bám dính màu nâu đen và 01 (một) đoạn ống nhựa màu cam được hàn kín một đầu, một đầu hở được niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT”; 01 (một) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa viền màu đỏ được niêm phong trong phong bì ký hiệu “KX1”; 01 (một) lọ nhựa màu trắng có nắp đậy màu trắng, bên trong có 08 (tám) đoạn ống nhựa trong đó có 07 (bẩy) đoạn đều được hàn kín một đầu, một đầu hở (03 (ba) đoạn màu trắng, 01 (một) đoạn màu xanh có đường kẻ màu trắng, 01 (một) đoạn màu trắng có đường kẻ màu hồng, 01 (một) đoạn màu đen, 01 (một) đoạn màu vàng) và 01 (một) đoạn ống nhựa màu vàng hở hai đầu được niêm phong trong phong bì ký hiệu “KX2”; 01 (một) đoạn ống nhựa màu cam được hàn kín hai đầu bên trong chứa chất cục bột màu trắng nghi là ma túy được niêm phong trong phong bì ký hiệu “KX3”; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, màu đen, số Xeri: 355904059563621 đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng được niêm phong trong phong bì ký hiệu “ĐT Tuất”; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, màu đen, có số Serial: 351869077812777 đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu Vàng màn hình bị vỡ nứt phía dưới, số IMEI 1: 862651039398497 đã qua sử dụng được niêm phong trong phong bì ký hiệu “ĐT Thơm”; 01 (một) bật lửa màu đỏ; 01 (một) cuộn giấy bạc có hai mặt màu trắng bạc đã qua sử dụng; 03 (ba) mảnh giấy bạc; 03 (ba) dao tem đã qua sử dụng; 05 (năm) đoạn ống hút (loại ống hút nước) trong đó có 03 (ba) đoạn màu hồng, 01 (một) đoạn màu xanh, 01 (một) đoạn màu đen đã qua sử dụng; 03 (ba) mảnh dao tem đã qua sử dụng; 01 (một) chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Thị T; 02 (hai) căn cước công dân mang tên Nguyễn Thị T; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu XINHA, màu đen (xe đã cũ, không có gương, không có yếm, hộp đèn trước bị vỡ), số khung 062707, số máy 00062707, biển kiểm soát: 98K1-3218 đã qua sử dụng được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn để xử lý theo quy định.

Từ những nội dung nêu trên, bản Cáo trạng số: 113/CT-VKS ngày 15 tháng 8 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị T về các tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự và “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 256 của Bộ luật Hình sự, bị cáo Vương Văn T1 bị Viện kiểm sát nhân dân huyện L, tỉnh Bắc Giang truy tố về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 256 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị T, bị cáo Vương Văn T1 khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Bản cáo trạng đã truy tố các bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật không oan sai. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Vương Thị T5 giữ nguyên lời khai đã trình bày tại cơ quan điều tra, không trình bày bổ sung gì thêm.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt tại phiên toà, Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người này có trong hồ sơ vụ án, công bố kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang giữ quyền công tố Nhà nước tại phiên toà đã luận tội bị cáo Nguyễn Thị T, bị cáo Vương Văn T1, phân tích tính chất, mức độ hành vi của các bị cáo, giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 251; khoản 1 Điều 256; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 17, Điều 58, Điều 55 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T từ 24 (hai mươi bốn) tháng đến 27 (hai mươi bảy) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và từ 24 (hai mươi bốn) tháng đến 27 (hai mươi bảy) tháng tù tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là từ 04 (bốn) năm đến 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (ngày 24/4/2024). Phạt bổ sung bằng tiền từ 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) đến 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 256; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Vương Văn T1 từ 27 (hai mươi bảy) tháng đến 30 (ba mươi) tháng tù tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (24/4/2024). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Vương Văn T1.
  • Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, điểm b, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, điểm b, điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy:

  • + 01 (một) mảnh giấy bạc, hai mặt đều tráng bạc như nhau, một mặt có chất bám dính màu nâu đen và 01 (một) đoạn ống nhựa màu cam được hàn kín một đầu, một đầu hở được niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT” (Được hoàn lại sau giám định); 01 (một) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa viền màu đỏ được niêm phong trong phong bì ký hiệu “KX1”; 01 (một) lọ nhựa màu trắng có nắp đậy màu trắng, bên trong có 08 (tám) đoạn ống nhựa trong đó có 07 (bẩy) đoạn đều được hàn kín một đầu, một đầu hở (03 (ba) đoạn màu trắng, 01 (một) đoạn màu xanh có đường kẻ màu trắng, 01 (một) đoạn màu trắng có đường kẻ màu hồng, 01 (một) đoạn màu đen, 01 (một) đoạn màu vàng) và 01 (một) đoạn ống nhựa màu vàng hở hai đầu được niêm phong trong phong bì ký hiệu “KX2”; 01 (một) đoạn ống nhựa màu cam được hàn kín hai đầu bên trong chứa chất cục bột màu trắng nghi là ma túy được niêm phong trong phong bì ký hiệu “KX3” (Được hoàn lại sau giám định);
  • + 01 (một) bật lửa màu đỏ; 01 (một) cuộn giấy bạc có hai mặt màu trắng bạc đã qua sử dụng; 03 (ba) mảnh giấy bạc; 03 (ba) dao tem đã qua sử dụng; 05 (năm) đoạn ống hút (loại ống hút nước) trong đó có 03 (ba) đoạn màu hồng, 01 (một) đoạn màu xanh, 01 (một) đoạn màu đen đã qua sử dụng; 03 (ba) mảnh dao tem đã qua sử dụng.

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: Số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) đã thu giữ của bị cáo Nguyễn Thị T; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, màu đen, số seri: 355904059563621 đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng được niêm phong trong phong bì ký hiệu “ĐT Tuất”.

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị T: 01 (một) chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Thị T; 02 (hai) căn cước công dân mang tên Nguyễn Thị T.

- Trả lại bị cáo Nguyễn Thị T: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu XINHA, màu đen, số khung 062707, số máy 00062707, biển kiểm soát: 98K1-3218 đã qua sử dụng, nhưng tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án.

- Trả lại cho bị cáo Vương Văn T1: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, màu đen, có số Serial: 351869077812777 đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu vàng màn hình bị vỡ nứt phía dưới, số IMEI 1: 862651039398497 đã qua sử dụng được niêm phong trong phong bì ký hiệu “ĐT Thơm”.

Bị cáo Nguyễn Thị T đề nghị miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đối đáp: Theo quy định tại khoản 5, Điều 251 Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 5.000.000 đồng (Năm triệu) đến 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu). Do bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội với mục đích trục lợi nên đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Thị T từ 5.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng là mức khởi điểm của hình phạt bổ sung, phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.

Bị cáo Vương Văn T1, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Vương Thị T5 không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Thực hiện lời nói sau cùng, các bị cáo Nguyễn Thị T và Vương Văn T1 cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo sớm trở về với gia đình, xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về việc vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng được triệu tập hợp lệ vắng mặt, những người này đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vắng mặt những người này theo quy định của pháp luật.

[3] Về hành vi của các bị cáo theo nội dung bản Cáo trạng truy tố: Căn cứ lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, phù hợp với lời khai của nhân chứng, tang vật chứng thu hồi được, phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ 10 phút ngày 23/4/2024, tại tổ dân phố Ồ, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Nguyễn Thị T đã thực hiện hành vi bán 01 đoạn ống nhựa màu cam, bên trong có chứa ma túy, loại Heroine với giá 200.000 đồng cho anh Lương Văn T4, sinh năm 1995. Sau đó T và chồng là Vương Văn T1 đã đồng ý cho anh Lương Văn T4 sử dụng ma túy Heroine tại phòng thờ trên tầng 2 của gia đình mình. Khi anh T4 vừa sử dụng ma túy xong thì bị Tổ công tác của phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện L, tỉnh Bắc Giang phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ tang vật liên quan. Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của T và T1 thu giữ 01 đoạn ống nhựa màu cam bên trong chứa 0,039 gam ma túy Heroine. Số ma túy trên là do T tàng trữ với mục đích bán cho các đối tượng nghiện.

[4] Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi mua bán, chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy ma tuý là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đã căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, lời khai nhận của các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử kết tội các bị cáo theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 256 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Vương Văn T1 về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 256 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố các bị cáo và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên cần được Hội đồng xét xử xem xét và chấp nhận.

[5] Về tính chất của vụ án: Các chất ma túy do Nhà nước quản lý và nghiêm cấm công dân tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép. Người nào có hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy với khối lượng theo quy định của Bộ luật Hình sự và các văn bản hướng dẫn thi hành thì sẽ bị xử lý bằng pháp luật hình sự. Ma túy đã trở thành mối hiểm họa chung của từng quốc gia và toàn nhân loại, đi cùng với đó là sự nghèo đói và bệnh tật, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, gây tác hại về nhiều mặt đối với đời sống xã hội. Hành vi của các bị cáo là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm hại đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma tuý, tiếp tay cho việc mua bán, tàng trữ sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có hình phạt nghiêm khắc đối với các bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[6] Về tính chất đồng phạm và vai trò của các bị cáo đối với hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy: Bị cáo Vương Văn T1 và bị cáo Nguyễn Thị T đều biết việc Lương Văn T4 sử dụng ma túy tại nhà của mình nhưng đồng ý cho T4 sử dụng trái phép chất ma túy nên phải chịu trách nhiệm độc lập về hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, xác định đây là đồng phạm giản đơn và vai trò của các bị cáo là ngang nhau.

[7] Về nhân thân của các bị cáo thấy: Bị cáo Nguyễn Thị T là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo Vương Văn T1 là người có nhân thân xấu đã từng Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xử phạt về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

[8] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thấy: Bị cáo Nguyễn Thị T, bị cáo Vương Văn T1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

[9] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thấy: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được chấp nhận.

[10] Về mức hình phạt áp dụng đối với các bị cáo: Từ những phân tích đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ngoài hành vi “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” bị cáo Nguyễn Thị T còn có hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” cho người khác để thu lời bất chính. Bị cáo T1 là người có nhân thân xấu, đã từng bị xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” nhưng không lấy đó làm bài học, tu dưỡng bản thân. Điều đó thể hiện sự coi thường pháp luật của các bị cáo, các bị cáo phạm vào tội nghiêm trọng. Do vậy, cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có đủ điều kiện để cải tạo các bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội và mức hình phạt đề nghị áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được chấp nhận. Tuy nhiên, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo Vương Văn T1 là nghiêm khắc so với hành vi phạm tội của bị cáo. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo Vương Văn T1 với mức án thấp hơn mức án đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Do bị cáo Nguyễn Thị T phạm hai tội nên cần áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt chung đối với bị cáo T.

[11] Về hình phạt bổ sung: Đối với tội phạm này ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền để sung công quỹ Nhà nước. Hội đồng xét xử thấy bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội với mục đích trục lợi nên cần phạt bổ sung bằng tiền. Bị cáo Vương Văn T1 là người cao tuổi nên miễn phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo T1.

[12] Về những vấn đề khác: Đối với người đàn ông xe ôm đã mua ma túy cho Nguyễn Thị T, quá trình điều tra T khai không quen biết và cũng không biết tên tuổi, địa chỉ của người này nên không có căn cứ để xem xét xử lý.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lương Văn T4 và Vương Văn T1, ngày 17/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T4 và T1 về hành vi nêu trên là có căn cứ.

Đối với Hoàng Văn Q, bị cáo Vương Văn T1 khai bản thân Thơm dương tính với ma túy là do trước đó T1 đã sử dụng ma túy mua của Hoàng Văn Q, Ngày 01/7/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiến hành khám xét nơi ở của Hoàng Văn Q, thu giữ số tiền 1.300.000đ (một triệu ba trăm nghìn đồng); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A70, màu tím, bên trong máy lắp sim số 0347.320.395, số IMEI 1: 355915102450181/01, IMEI 2: 355916102450184/01 máy đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu đen, bên trong máy nắp sim số 0376.637.938, số IMEI 1: 865480065785642/00; số IME1 2: 865480065785659/00 máy đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, màu đen, trong máy không nắp sim đã qua sử dụng, máy không lên nguồn. Tại cơ quan điều tra Hoàng Văn Q không thừa nhận bán ma túy cho Vương Văn T1, cơ quan điều tra tiến hành cho T1 và Q đối chất, kết quả hai bên vẫn giữ nguyên lời khai. Ngoài lời khai của T1, không còn tài liệu chứng cứ nào khác xác định Quảng bán ma túy cho T1. Do đó cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với Hoàng Văn Q là có căn cứ.

[13] Về xử lý vật chứng:

[13.1] Đối với vật chứng đã xử lý: Đối với số tiền 1.180.000 đồng thu giữ trong quá trình khám xét nơi ở của Nguyễn Thị T, xác định trong đó có 200.000 đồng là tiền bán ma túy cho anh T4, còn 01 túi màu vàng trắng có chữ “Tiệm Trà Bi Đắng” có quai sách bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone X và số tiền 980.000 đồng là của con gái T là Vương Thị T5; số tiền 1.300.000₫ (một triệu ba trăm nghìn đồng); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A70, màu tím, bên trong máy lắp sim số 0347.320.395, số IMEI 1: 355915102450181/01, IME1 2: 355916102450184/01 máy đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu đen, bên trong máy nắp sim số 0376.637.938, số IMEI 1: 865480065785642/00; số IMEI 2: 865480065785659/00 máy đã qua sử dụng và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, màu đen, trong máy không nắp sim đã qua sử dụng, máy không lên nguồn đã thu giữ của anh Hoàng Văn Q. Quá trình điều tra xác định số đồ vật, tài sản này thuộc sở hữu của chị T5, anh Q, không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo. Ngày 17/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là có căn cứ.

[13.2] Đối với vật chứng chưa xử lý:

Đối với 01 (một) mảnh giấy bạc, hai mặt đều tráng bạc như nhau, một mặt có chất bám dính màu nâu đen và 01 (một) đoạn ống nhựa màu cam được hàn kín một đầu, một đầu hở được niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT”; 01 (một) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa viền màu đỏ được niêm phong trong phong bì ký hiệu “KX1”; 01 (một) lọ nhựa màu trắng có nắp đậy màu trắng, bên trong có 08 (tám) đoạn ống nhựa trong đó có 07 (bẩy) đoạn đều được hàn kín một đầu, một đầu hở (03 (ba) đoạn màu trắng, 01 (một) đoạn màu xanh có đường kẻ màu trắng, 01 (một) đoạn màu trắng có đường kẻ màu hồng, 01 (một) đoạn màu đen, 01 (một) đoạn màu vàng) và 01 (một) đoạn ống nhựa màu vàng hở hai đầu được niêm phong trong phong bì ký hiệu “KX2”; 01 (một) đoạn ống nhựa màu cam được hàn kín hai đầu bên trong chứa chất cục bột màu trắng nghi là ma túy được niêm phong trong phong bì ký hiệu “KX3”; bên trong có chứa chất ma túy là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với 01 (một) bật lửa màu đỏ; 01 (một) cuộn giấy bạc có hai mặt màu trắng bạc đã qua sử dụng; 03 (ba) mảnh giấy bạc; 03 (ba) dao tem đã qua sử dụng; 05 (năm) đoạn ống hút (loại ống hút nước) trong đó có 03 (ba) đoạn màu hồng, 01 (một) đoạn màu xanh, 01 (một) đoạn màu đen đã qua sử dụng; 03 (ba) mảnh dao tem. Đây là những vật chứng sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị nên cần phải tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, màu đen, số IMEI: 355904059563621 đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng được niêm phong trong phong bì ký hiệu “ĐT Tuất” là vật chứng dùng để liên lạc mua ma túy, liên quan đến hành vi phạm tội cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với 01 (một) chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Thị T; 02 (hai) căn cước công dân mang tên Nguyễn Thị T không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo T theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, màu đen, có số Serial: 351869077812777 đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu vàng màn hình bị vỡ nứt phía dưới, số IMEI 1: 862651039398497 đã qua sử dụng được niêm phong trong phong bì ký hiệu “ĐT Thơm” là tài sản của bị cáo T1 không sử dụng vào mục đích phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo T1 theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với số tiền 200.000 đồng thu giữ của bị cáo T là tiền do phạm tội mà có nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu XINHA, màu Đen, số khung 062707, số máy 00062707, biển kiểm soát: 98K1-3218 đã qua sử dụng là tài sản của bị cáo T không sử dụng vào việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo T theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự nhưng tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án.

[14] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Thị T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Miễn cho bị cáo Vương Văn T1 không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm do là người cao tuổi.

[15] Ý kiến về xử lý vật chứng, án phí của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được chấp nhận.

[16] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự:

1.1. Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 251; khoản 1 Điều 256; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58; Điều 55; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 02 (hai) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 02 (hai) năm tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 24/4/2024).

- Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thị T bằng tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) sung công ngân sách Nhà nước.

1.2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 256; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Vương Văn T1 02 (hai) năm 01 (một) tháng tù tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (ngày 24/4/2024).

- Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, điểm b, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, điểm b, điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy:

  • + 01 (một) mảnh giấy bạc, hai mặt đều tráng bạc như nhau, một mặt có chất bám dính màu nâu đen và 01 (một) đoạn ống nhựa màu cam được hàn kín một đầu, một đầu hở được niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT” (Được hoàn lại sau giám định); 01 (một) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa viền màu đỏ được niêm phong trong phong bì ký hiệu “KX1”; 01 (một) lọ nhựa màu trắng có nắp đậy màu trắng, bên trong có 08 (tám) đoạn ống nhựa trong đó có 07 (bẩy) đoạn đều được hàn kín một đầu, một đầu hở (03 (ba) đoạn màu trắng, 01 (một) đoạn màu xanh có đường kẻ màu trắng, 01 (một) đoạn màu trắng có đường kẻ màu hồng, 01 (một) đoạn màu đen, 01 (một) đoạn màu vàng) và 01 (một) đoạn ống nhựa màu vàng hở hai đầu được niêm phong trong phong bì ký hiệu “KX2”; 01 (một) đoạn ống nhựa màu cam được hàn kín hai đầu bên trong chứa chất cục bột màu trắng nghi là ma túy được niêm phong trong phong bì ký hiệu “KX3” (Được hoàn lại sau giám định, số ma túy còn lại sau giám định là 0.074 gam);
  • + 01 (một) bật lửa màu đỏ; 01 (một) cuộn giấy bạc có hai mặt màu trắng bạc đã qua sử dụng; 03 (ba) mảnh giấy bạc; 03 (ba) dao tem đã qua sử dụng; 05 (năm) đoạn ống hút (loại ống hút nước) trong đó có 03 (ba) đoạn màu hồng, 01 (một) đoạn màu xanh, 01 (một) đoạn màu đen đã qua sử dụng; 03 (ba) mảnh dao tem đã qua sử dụng.

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: Số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) đã thu giữ của bị cáo Nguyễn Thị T; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, màu đen, số seri: 355904059563621 đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng được niêm phong trong phong bì ký hiệu “ĐT Tuất”.

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị T: 01 (một) chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Thị T; 02 (hai) căn cước công dân mang tên Nguyễn Thị T.

- Trả lại bị cáo Nguyễn Thị T: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu XINHA, màu đen, số khung 062707, số máy 00062707, biển kiểm soát: 98K1-3218 đã qua sử dụng, nhưng tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án.

- Trả lại cho bị cáo Vương Văn T1: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, màu đen, có số Serial: 351869077812777 đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu vàng màn hình bị vỡ nứt phía dưới, số IMEI 1: 862651039398497 đã qua sử dụng được niêm phong trong phong bì ký hiệu “ĐT Thơm”.

(Vật chứng được bàn giao theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 20 tháng 8 năm 2024 giữa Công an huyện L, tỉnh Bắc Giang và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang)

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Buộc bị cáo Nguyễn Thị T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Miễn cho bị cáo Vương Văn T1 không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lục Ngạn;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bắc Giang;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Lục Ngạn;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Ngạn;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - UBND thị trấn Chũ, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang;
  • - Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Đức Nhường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 113/2024/HS-ST ngày 06/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về tội mua bán trái phép chất ma tuý và tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 113/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội Mua bán trái phép chất ma tuý và Tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: fxj
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger