Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 113/2024/HS-ST

Ngày 29/8/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thanh Thủy

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Huỳnh Thanh Trà

- Ông Nguyễn Xuân Tùng

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Võ Thị Tới - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Đinh Ngọc Vĩnh, Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 52/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Ngô Đức T (tên gọi khác: Zet) - Sinh ngày 10/10/1992 tại Thừa Thiên Huế; Nơi ĐKNKTT: 8 N, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi ở hiện tại : 2 H, phường V, quận C, thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật; Trình độ học vấn: Lớp 4/12; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Cha: Ngô Đức P và mẹ: Dương Thị M; Có 01 con sinh năm 2014.

Tiền án:

  • Ngày 25/11/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo bản án số 724/2015/HSPT;
  • Ngày 20/7/2021, bị Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo bản án số 37/2021/HS-ST;

Tiền sự: Không;

Nhân thân:

  • Ngày 13/11/2009, bị Tòa án nhân dân quận 3, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù về tội Cố ý gây thương tích theo bản án số 132/2009/HS-ST.

Bị cáo hiện đang bị giam tại nhà tạm giữ công an quận H, thành phố Đà Nẵng, có mặt tại phiên tòa.

Bị Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng truy tố về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại điểm h, khoản 2 Điều 304 Bộ luật hình sự.

2. Bùi Quốc H (tên gọi khác: Nhem) - Sinh ngày 19/10/1978 tại Đà Nẵng; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: K N, tổ I, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 5/12; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Cha: B (chết) và mẹ: Trần Thị Kim D; Vợ : Cao Thị T1 (sinh năm 1975) và 01 con sinh năm 2011.

Tiền án:

  • Ngày 13/01/2020, bị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xử phạt 12 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo bản án số 02/2020/HSST.
  • Ngày 07/6/2021, bị Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xử phạt 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo bản án số 34/2021/HSST.

Tiền sự: Không;

Nhân thân:

  • Ngày 24/4/1996, bị Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản công dân.
  • Ngày 07/01/1999, bị Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng xử phạt 10 năm tù về tội Cướp tài sản công dân theo bản án phúc thẩm hình sự số 03.
  • Ngày 26/02/2009, bị Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xử phạt 30 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích theo bản án số 33/2009/HSPT.

Bị cáo hiện đang bị giam tại nhà tạm giữ công an quận H, thành phố Đà Nẵng, có mặt tại phiên tòa.

Bị Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng truy tố về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại điểm h, khoản 2 Điều 304 Bộ luật hình sự.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Ngô Thị Thùy T2, sinh năm 1989; Trú tại: 1 Kiệt B Bầu T, tổ D, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng cuối tháng 8/2023, bị cáo Ngô Đức T đến Đà Nẵng để du lịch. Bị cáo đã gặp người bạn tên P1 (không rõ thông tin, lai lịch) trên bờ biển thành phố Đà Nẵng, P1 đưa cho bị cáo túi ni lông màu đen chứa 01 (một) khẩu súng ngắn màu đen bên trong có 04 (bốn) viên đạn, 01 (một) bình xịt hơi cay, 01 (một) còng số 8. Bị cáo cất túi ni lông màu đen vào túi xách có dây đeo màu đen của bị cáo rồi đến khách sạn N (số A N, phường P, quận H, thành phố Đà Nẵng) thuê phòng 805 để lưu trú. Sau đó, bị cáo T rủ bị cáo Bùi Quốc H (quen biết khi cùng thi hành án tại Trại giam B vào năm 2021) đến ở cùng. Trong lúc ở khách sạn, T có cho H xem khẩu súng và đạn trong súng sau đó cất vào túi xách màu đen của T trong tủ quần áo của khách sạn.

Đến ngày 09/9/2023, bị cáo T có việc vào thành phố Hồ Chí Minh. Nên bị cáo sử dụng khăn tắm màu trắng của khách sạn bọc khẩu súng ngắn, đưa cho bị cáo H nhờ H giữ cùng với 01 (một) túi xách bên trong có quần áo của T và 01 (một) bình xịt hơi cay, 01 (một) còng số 8. H nhận khẩu súng được bọc trong khăn tắm cất vào dưới gối ở đầu giường phía bên trái (theo hướng nhìn từ phía chân giường) cho đến khi bị lực lượng Công an phát hiện.

Chiều cùng ngày, T đi khỏi khách sạn và thanh toán tiền phòng đến ngày 12/9/2023 để H tiếp tục ở lại khách sạn. Trong thời gian ở lại khách sạn N, H có rủ Ngô Thị Thùy T2 (trú tổ D, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng) đến ở cùng.

Sáng ngày 12/9/2023, Công an quận H tiến hành kiểm tra hành chính phòng 805 phát hiện bị cáo Bùi Quốc H có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; thu giữ tại vị trí đầu giường ngủ 01 (một) khẩu súng ngắn kim loại màu đen, trong hộp tiếp đạn của súng có 04 (bốn) viên đạn bằng kim loại; tại vị trí trong tủ áo quần có một túi xách màu đen, bên trong có 01 (một) còng số 8 bằng kim loại, 01 (một) bình xịt kim loại, 01 (một) dao xếp bằng kim loại.

Theo Kết luận giám định số 819/KL-KTHS ngày 27/9/2023 của Phòng K Công an thành phố Đ xác định khẩu súng gửi giám định là súng ngắn bán tự động, thuộc vũ khí quân dụng; 04 (bốn) viên đạn là đạn tự chế, có tính năng tác dụng tương tự vũ khí quân dụng.

Kết luận giám định số 828/KL-KTHS ngày 29/9/2023 của Phòng K Công an thành phố Đ xác định bình xịt thuộc công cụ hỗ trợ, còng kim loại không sử dụng được, không có cơ sở kết luận; con dao là vũ khí có tính năng tác dụng tương tự vũ khí thô sơ.

Vật chứng thu giữ:

  • 01 (một) cây súng ngắn màu đen, có cán bằng nhựa màu bạc, có hình dạng giống súng ngắn, bên trên có các ký hiệu "PERFORMANCE CENTER". "XYL221012242", "F", ,'S # OPNE", "S&W357 MAGNUM", "MADE IN CHINA" (hiện đã được chuyển đến và lưu giữ tại kho vũ khí Bộ chỉ huy quân sự thành phố Đ).
  • 04 (bốn) viên đạn, được làm bằng kim loại, màu vàng, hình trụ tròn, dài khoản 2,2cm, đường kính khoảng 1,0 cm. Qua giám định xác định là đạn tự chế, có tính năng tác dụng tương tự vũ khí quân dụng. Quá trình giám định, Cơ quan giám định bắn thực nghiệm 1 (một) viên đạn nên còn 03 (ba) viên đạn, 01 (một) vỏ đạn và đầu đạn (hiện đã được chuyển đến và lưu giữ tại kho vũ khí Bộ chỉ huy quân sự thành phố Đ).
  • + 01 (một) còng kim loại;
  • + 01 (một) bình xịt bằng kim loại;
  • + 01 (một) điện thoại di động màu xám có chữ Iphone, số IMEI: 354389060730485, cùng sim điện thoại bên trong;
  • + 01 (một) điện thoại di động màu xanh có chữ Samsung, số IMEI 1: 353996320728464, số IMEI 2: 354281940728460, cùng sim điện thoại bên trong;
  • + 01 (một) dao xếp bằng kim loại.

Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo Ngô Đức T và Bùi Quốc H đã khai nhận về hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu cơ quan điều tra đã thu thập.

Tại bản cáo trạng số 78/CT-VKS-P2 ngày 24/4/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Ngô Đức T, Bùi Quốc H về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại điểm h, khoản 2 Điều 304 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm h khoản 2, Điều 304; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Ngô Đức T từ 6 năm đến 6 năm 6 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”; Áp dụng điểm h khoản 2, Điều 304; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Bùi Quốc H từ 5 năm 6 tháng đến 6 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. Về xử lý vật chứng, đề nghị HĐXX căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu nộp ngân sách nhà nước đối với:

  • 01 (một) cây súng ngắn màu đen, có cán bằng nhựa màu bạc, có hình dạng giống súng ngắn, bên trên có các ký hiệu "PERFORMANCE CENTER". "XYL221012242", "F", ,'S # OPNE", "S&W357 MAGNUM", "MADE IN CHINA"
  • 03 (ba) viên đạn, được làm bằng kim loại, màu vàng, hình trụ tròn, dài khoản 2,2cm, đường kính khoảng 1,0 cm.

T3 trả lại cho bị cáo Bùi Quốc H các đồ vật sau vì không liên quan đến hành vi phạm tội:

  • 01 (một) điện thoại di động màu xám có chữ Iphone, số IMEI: 354389060730485, cùng sim điện thoại bên trong;

T3 trả lại cho bà Ngô Thị Thùy T2 01 (một) điện thoại di động màu xanh có chữ Samsung, số IMEI 1: 353996320728464, số IMEI 2: 354281940728460, cùng sim điện thoại bên trong.

Đề nghị tịch thu tiêu hủy:

  • Vỏ đạn và đầu đạn được hình thành sau khi cơ quan giám định bắn thực nghiệm 01 viên đạn.
  • 01 (một) còng kim loại không sử dụng được;
  • 01 (một) Bình xịt thuộc công cụ hỗ trợ;
  • 01 (một) con dao là vũ khí có tính năng tác dụng tương tự vũ khí thô sơ.

Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, và xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai tại hồ sơ. Lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với lời khai của bị cáo. Bà T2 không có yêu cầu bồi thường dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có người nào ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ lời khai của các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xác định:

Vào ngày 12/9/2023, tại phòng 805 khách sạn N (số A N, phường P, quận H, thành phố Đà Nẵng) bị cáo Ngô Đức T và Bùi Quốc H đã có hành vi tàng trữ trái phép 01 cây súng ngắn màu đen, có cán bằng nhựa màu bạc, có hình dạng giống súng ngắn, bên trên có các ký hiệu "PERFORMANCE CENTER", "XYL221012242", "F", "S → OPNE", "S&W357 MAGNUM" "MADE IN CHINA" và 04 (bốn) viên đạn, được làm bằng kim loại, màu vàng, hình trụ tròn, dài khoản 2,2 cm, đường kính khoảng 1,0 cm có tính năng tác dụng tương tự vũ khí quân dụng.

Bị cáo Ngô Đức T đã có tiền án vào ngày 20/7/2021, bị Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo bản án số 37/2021/HS-ST; Tại bản án này, bị cáo đã bị áp dụng tình tiết tái phạm. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 24/7/2022, chưa được xóa án tích đã tiếp tục phạm tội mới vào ngày 12/9/2023. Do đó lần phạm tội này, bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm.

Bị cáo Bùi Quốc H đã có tiền án vào ngày 13/01/2020, bị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xử phạt 12 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo bản án số 02/2020/HSST. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/9/2020 chưa được xóa án tích nhưng ngày 22/10/2020, bị cáo đã phạm tội mới và bị Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xử phạt 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo bản án số 34/2021/HSST ngày 07/6/2021. Đối với bản án số 34/2021/HSST của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/4/2022, chưa được xóa án tích đã tiếp tục phạm tội mới vào ngày 12/9/2023. Do đó lần phạm tội này, bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm.

Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm h, khoản 2 Điều 304 Bộ luật hình sự. Các bị cáo cùng thực hiện hành vi phạm tội, là đồng phạm giản đơn.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội thì thấy, các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm các quy định độc quyền của nhà nước về quản lý vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự, đe dọa đến an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Do đó cần xử phạt các bị cáo tương xứng để đảm bảo giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Xét nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thì thấy: Các bị cáo đều có nhiều tiền án, nhân thân xấu. Tuy nhiên, HĐXX nhận thấy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét khi lượng hình đối với các bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng:

Cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước đối với:

  • 01 (một) cây súng ngắn màu đen, có cán bằng nhựa màu bạc, có hình dạng giống súng ngắn, bên trên có các ký hiệu "PERFORMANCE CENTER"."XYL221012242", "F", ,'S # OPNE", "S&W357 MAGNUM", "MADE IN CHINA"
  • 03 (ba) viên đạn, được làm bằng kim loại, màu vàng, hình trụ tròn, dài khoản 2,2cm, đường kính khoảng 1,0 cm.

T3 trả lại cho bị cáo Bùi Quốc H các đồ vật sau vì không liên quan đến hành vi phạm tội:

  • 01 (một) điện thoại di động màu xám có chữ Iphone, số IMEI: 354389060730485, cùng sim điện thoại bên trong;
  • T3 trả lại cho bà Ngô Thị Thùy T2 01 (một) điện thoại di động màu xanh có chữ Samsung, số IMEI 1: 353996320728464, số IMEI 2: 354281940728460, cùng sim điện thoại bên trong.

Tịch thu tiêu hủy đối với:

  • Vỏ đạn và đầu đạn được hình thành sau khi cơ quan giám định bắn thực nghiệm 01 viên đạn.
  • 01 (một) còng kim loại không sử dụng được;
  • 01 (một) Bình xịt thuộc công cụ hỗ trợ;
  • 01 (một) con dao là vũ khí có tính năng tác dụng tương tự vũ khí thô sơ.

[6] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Bùi Quốc H đã bị Tòa án nhân dân quận Hải Châu thành phố Đà Nẵng ban hành Quyết định số 37/2023/QĐ-TA v/v Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 12 tháng là phù hợp.

[7] Đối với Ngô Thị Thùy T2 (là bạn gái của bị cáo Bùi Quốc H) không biết việc bị cáo H tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng nên không có cở sở xử lý hình sự đối với bà T2.

[8] Từ những nhận định trên, xét thấy lời luận tội của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu về tội danh và áp dụng các điều luật cũng như đề nghị mức hình phạt là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Ngô Đức T, Bùi Quốc H phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng"

1. Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 304; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55, 56 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Ngô Đức T 6 (sáu) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.

Tổng hợp với hình phạt 06 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy tại bản án số 99/2024/HS-ST ngày 05/3/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Bị cáo T phải chấp hành hình phạt 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn thi hành án phạt tù tính từ ngày 29/9/2023.

Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 304; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Quốc H 5 (năm) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn thi hành án phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 12/11/2023.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 9 Điều 21 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 quy định thi hành Bộ luật dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, xử lý vật chứng như sau:

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước đối với:

  • 01 (một) cây súng ngắn màu đen, có cán bằng nhựa màu bạc, có hình dạng giống súng ngắn, bên trên có c ác ký hi ệu "PERFORMANCE CENTER","XYL221012242", "F", ,'S # OPNE", "S&W357 MAGNUM", "MADE IN CHINA"
  • 03 (ba) viên đạn, được làm bằng kim loại, màu vàng, hình trụ tròn, dài khoản 2,2cm, đường kính khoảng 1,0 cm.

(Vật chứng nêu trên hiện đã được chuyển đến và lưu giữ tại kho vũ khí Bộ chỉ huy quân sự thành phố Đ theo Lệnh nhập kho số 52/NVK23 ngày 29/11/2023; Thực hiện xong ngày 04/01/2024).

Tịch thu tiêu hủy đối với:

  • Vỏ đạn và đầu đạn được hình thành sau khi cơ quan giám định bắn thực nghiệm 01 viên đạn.

(Vật chứng nêu trên hiện đã được chuyển đến và lưu giữ tại kho vũ khí Bộ chỉ huy quân sự thành phố Đ theo Lệnh nhập kho số 52/NVK23 ngày 29/11/2023; Thực hiện xong ngày 04/01/2024).

  • 01 (một) còng kim loại không sử dụng được;
  • 01 (một) Bình xịt thuộc công cụ hỗ trợ;
  • 01 (một) con dao là vũ khí có tính năng tác dụng tương tự vũ khí thô sơ.

(Vật chứng nêu trên hiện nay Chi cục thi hành án dân sự quận Hải Châu đang quản lý theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 08 tháng 5 năm 2024)

Tuyên trả lại cho bị cáo Bùi Quốc H các đồ vật sau vì không liên quan đến hành vi phạm tội:

  • 01 (một) điện thoại di động màu xám có chữ Iphone, số IMEI: 354389060730485, cùng sim điện thoại bên trong;
  • T3 trả lại cho bà Ngô Thị Thùy T2 01 (một) điện thoại di động màu xanh có chữ Samsung, số IMEI 1: 353996320728464, số IMEI 2: 354281940728460, cùng sim điện thoại bên trong.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Ngô Đức T, Bùi Quốc H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người tham gia tố tụng có mặt có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - VKSND quận Hải Châu;
  • - Công an quận Hải Châu;
  • - Chi cục THADS quận Hải Châu
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thanh Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 113/2024/HS-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng

  • Số bản án: 113/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Ngô Đức T, Bùi Quốc H phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. Xử phạt: Bị cáo Ngô Đức T 6 (sáu) năm tù, bị cáo Bùi Quốc H 5 (năm) năm 6 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger