Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GÒ DẦU

TỈNH TÂY NINH

Bản án số: 113/2024/HNGĐ-ST

Ngày 28-8-2024

V/v tranh chấp về ly hôn, nuôi con và

nợ chung

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tiến Danh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Thanh Văn;
  2. Ông Nguyễn Văn Trọn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Nhựt Quang - Thư ký Toà án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lâm Quốc Bảo - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 329/2023/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 7 năm 2023 về việc “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con và nợ chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 129/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Nhật T, sinh năm 1990. “vắng mặt”
  2. Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh.

  3. Bị đơn: Ông Nguyễn Đức L, sinh năm 1990. “vắng mặt”
  4. Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh.

  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị Kim G, sinh năm 1981. “vắng mặt”
  6. Địa chỉ: Khu phố D, phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh.

    Người đại diện theo ủy quyền là ông Trần Hữu T1, sinh năm 1973. Địa chỉ: Số A, hẻm G, đường C, khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Tây Ninh (Theo văn bản ủy quyền ngày 14/3/2023). “vắng mặt”

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 10/4/2023, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn - bà Phạm Thị Nhật T đã khai:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Đức L trên cơ sở tìm hiểu nhau một thời gian thì tự nguyện tiến đến hôn nhân vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào cùng năm. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do do bất đồng trong chuyện quản lý tiền bạc và ông L thường xuyên uống rượu về kiếm chuyện gây gỗ, chửi bới, đánh đập bà; từ đó dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Vợ chồng ly thân từ đầu năm 2023 cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hòa giải hàn gắn nên bà yêu cầu ly hôn đối với ông Nguyễn Đức L.

Về con chung: Bà và ông L có hai con chung tên Nguyễn Phạm Gia P, sinh ngày 03/6/2017 và Nguyễn Minh K, sinh ngày 21/11/2019. Hiện tại, cháu P và cháu K đang sống với ông L. Khi ly hôn, bà đồng ý giao cháu P và cháu K cho ông L tiếp tục nuôi dưỡng, bà không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà và ông L tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Bà và ông L không có, không yêu cầu giải quyết.

Về nợ riêng: Bà có nợ có vay bà Trần Thị Kim G nhiều lần để mua bán đất, không nói cho ông L biết. Bà thống nhất số tiền đã nhận từ bà G là 1.605.000.000 đồng (trong đó có 350.000.000 đồng tiền mặt), đã trả được 769.392.000 đồng, còn nợ lại số tiền 838.000.000 đồng. Bà đồng ý trả số tiền 838.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh cho bà G.

Bị đơn – ông Nguyễn Đức L đã khai:

Về quan hệ hôn nhân: Ông thống nhất quan hệ hôn nhân như lời trình bày của bà T. Tuy nhiên, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng về chuyện quản lý tiền bạc và bà T có tình cảm với người đàn ông khác; từ đó dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc nên ly thân hơn 1,5 năm gần đây. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hòa giải hàn gắn nên ông đồng ý ly hôn đối với yêu câu của bà Phạm Thị Nhật T.

Về con chung: Ông và bà T có hai con chung tên Nguyễn Phạm Gia P, sinh ngày 03/6/2017 và Nguyễn Minh K, sinh ngày 21/11/2019. Hiện tại, cháu P và cháu K đang sống với ông. Khi ly hôn, ông yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng cháu P và cháu K, không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông và bà T không có, không yêu cầu giải quyết.

Về nợ riêng: Đối với số tiền bà T vay bà Trần Thị Kim G là nợ riêng của bà T trong khoản thời gian hai vợ chồng ly thân, ông không có ký nhận hay nhận tiền gì từ bà G. Do đó, ông không đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà G đối với ông và bà T.

Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - ông Trần Hữu T1 trình bày: Do quen biết từ việc làm ăn nên bà Trần Thị Kim G có cho bà Phạm Thị Nhật T vay tiền nhiều lần để mua bán đất. Bà G đã chuyển khoản vào tài khoản Ngân hàng TMCP S1 (gọi tắt là ngân hàng) của bà T nhiều lần với tổng số tiền 1.255.000.000 đồng từ 07/4/2022 đến 08/8/2022 (không tính 500.000.000 đồng chuyển dùm bà N ngày 16/8/2022) và giao trực tiếp số tiền 350.000.000 đồng theo Giấy vay tiền đề ngày 14/8/2022, tổng cộng 1.605.000.000 đồng. Sau đó, bà T chuyển khoản trả cho bà G số tiền 769.392.000 đồng, còn nợ lại số tiền 835.608.000 đồng. Khi bà G cho bà T vay tiền, vợ chồng bà T vẫn còn sống chung và việc vay tiền để kinh doanh mua bán đất thì ông L cũng đứng tên, trong đó có thửa đất số 385, tờ bản đồ 4, tọa lạc tại ấp X, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh do Sở tài nguyên Môi trường tỉnh T cấp ngày 17/8/2022 cho vợ chồng bà T. Nay vợ chồng bà T không trả số tiền nợ còn lại. Do đó, bà G yêu cầu vợ chồng bà T cùng có nghĩa vụ trả số tiền 835.608.000 đồng và tiền lãi theo quy định pháp luật từ ngày 02/8/2023 cho đến khi giải quyết xong vụ việc.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi vào nghị án được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 27, 37, 56, 60, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 463, 466, 468, 469 Bộ luật Dân sự; Điều 147, 161 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

+ Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T đối với ông L, bà T được ly hôn với ông L; về con chung: giao hai con chung cho ông L tiếp tục nuôi dưỡng, ghi nhận ông L không cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung: không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

+ Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà G đối với bà T và ông L, buộc bà T và ông L cùng có nghĩa vụ trả cho bà G số tiền 835.608.000 đồng và tiền lãi theo quy định pháp luật.

- Về chi phí giám định và án phí: Các đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án do các bên cung cấp và qua kết quả thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, xét thấy:

[1] Về tố tụng: Bà Phạm Thị Nhật T khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Đức L. Đồng thời, bà Trần Thị Kim G có yêu cầu độc lập về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản đối với bà T và ông L; bà T và ông L đều có địa chỉ tại huyện G, tỉnh Tây Ninh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh theo quy định tại khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết, bà T, ông L và người đại diện theo ủy quyền của bà G là ông Trần Hữu T1 đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, do đó căn cứ khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.

[2] Về hôn nhân: Bà T và ông L trên cơ sở tự nguyện và đi đến hôn nhân từ năm 2016 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện G vào ngày 18/5/2016 (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 88/2016 của UBND xã P) nên hôn nhân của bà T và ông L là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Quá trình chung sống, bà T và ông L thừa nhận có xảy ra nhiều mâu thuẫn, không thể hòa giải hàn gắn và thuận tình ly hôn. Xét thấy, hôn nhân giữa bà T và ông L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T đối với ông L.

[3] Về con chung: Bà T và ông L thống nhất có hai con chung tên Nguyễn Phạm Gia P, sinh ngày 03/6/2017 và Nguyễn Minh K, sinh ngày 21/11/2019. Hiện tại, cháu P và cháu K đang sống với ông L. Khi ly hôn, bà T và ông L thống nhất giao cháu P và cháu K cho ông L tiếp tục nuôi dưỡng; bà T không phải cấp dưỡng nuôi con. Do đó, giao cháu P và cháu K cho ông L tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục, chăm sóc. Ghi nhận ông L không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con.

[4] Về tài sản chung: Bà T và ông L không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

[5] Về nợ chung: Bà T và ông L trình bày không có. Tuy nhiên, người đại diện theo ủy quyền của bà Trần Thị Kim G cho rằng số tiền vay còn nợ lại 835.608.000 đồng là nợ chung của vợ chồng bà T và ông L. Quá trình giải quyết, bà T thừa nhận còn nợ bà G số tiền 838.000.000 đồng, tuy nhiên bà T cho rằng nợ riêng khi vợ chồng đã ly thân, không thông báo cho ông L biết. Phía bà G cho rằng bà T vay tiền từ ngày 07/4/2022 đến ngày 14/8/2022 để kinh doanh bất động sản, tuy ông L không ký tên hay nhận tiền, nhưng số tiền vay được trong thời gian kỳ hôn nhân và vợ chồng bà T vẫn cùng nhau đứng tên quyền sử dụng. Ông T1 cung cấp quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 385, tờ bản đồ 4, tọa lạc tại ấp X, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh do Sở tài nguyên Môi trường tỉnh T cấp ngày 17/8/2022 cho vợ chồng bà L, hiện tại đang tranh chấp về hợp đồng đặt cọc riêng đối với ông T1 tại Tòa án nhân dân huyện Châu Thành. Ngoài ra, Tòa án có thu thập các hồ sơ tranh chấp hợp đồng vay tài sản để giám định, thể hiện khoản nợ ông Nguyễn Thanh S theo giấy nợ ngày 17/02/2023, bà Nguyễn Thị Kim H theo giấy nợ ngày 23/02/2023, trong đó các giấy nợ ông L không ký tên, nhưng bà T và ông L đều thừa nhận là nợ chung. Vì vậy, bà T và ông L cho rằng vay tiền của bà G thì ông L không biết là không phù hợp thực tế, vì vợ chồng vẫn sống chung nhà và đứng tên quyền sử dụng đất nên có cơ sở xác định khoản vay bà G là nợ chung của vợ chồng bà T. Do đó, bà T và ông L cùng có nghĩa vụ liên đới trả cho bà G số tiền gốc là 835.608.000 đồng.

Đến thời điểm hiện tại, bà T và ông L chưa thanh toán số tiền 835.608.000 đồng cho bà G là vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Các bên không thỏa thuận thời gian thanh toán, bà G yêu cầu vợ chồng bà T trả số tiền lãi chậm thanh toán theo quy định pháp luật từ ngày 02/8/2023 (trước ngày khởi kiện 27/3/2023) và số tiền gốc 835.608.000 đồng là có lợi cho vợ chồng bà T và phù hợp theo khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự. Do đó, bà G yêu cầu trả tiền lãi từ ngày 28/8/2024, được tính như sau: 835.608.000 đồng x 10%/năm x 01 năm 26 ngày (từ ngày 02/8/2023 đến ngày 28/8/2024) = 89.513.000 đồng. Do đó buộc bà T, ông L cùng có trách nhiệm liên đới trả tiền gốc, tiền lãi cho bà G là 925.121.000 đồng, trong đó: bà T, ông L mỗi người có nghĩa vụ trả là 462.560.500 đồng.

[6] Đối với đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, có căn cứ nên chấp nhận.

[7] Về chi phí giám định chữ ký, chữ viết: Do yêu cầu giám định của bà G là có căn cứ nên bà T phải chịu chi phí giám định là 2.211.000 đồng. Ghi nhận bà G đã nộp số tiền 2.211.000 đồng và chi xong. Bà T có nghĩa vụ trả lại cho bà G số tiền 2.211.000 đồng.

[8] Về án phí: Bà T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí dân sự đối với số tiền 462.560.500 đồng trả cho bà G. Ông L phải chịu án phí dân sự đối với số tiền 462.560.500 đồng trả cho bà G. Bà G không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 27, 37, 56, 60, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 463, 466, 468, 469 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 147, 161 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phạm Thị Nhật T với ông Nguyễn Đức L. Bà T được ly hôn với ông L.
  2. Về con chung: Giao hai con chung tên Nguyễn Phạm Gia P, sinh ngày 03/6/2017 và Nguyễn Minh K, sinh ngày 21/11/2019 cho ông Nguyễn Đức L tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Ghi nhận ông L không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con.
  3. Bà Phạm Thị Nhật T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở bà T thực hiện quyền này.

  4. Về tài sản chung: Bà T và ông L không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
  5. Về nợ chung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Kim G đối với bà Phạm Thị Nhật T và ông Nguyễn Đức L. Buộc bà T và ông L cùng có trách nhiệm liên đới trả cho bà Trần Thị Kim G số tiền 925.121.000 (chín trăm hai lăm triệu một trăm hai mươi một triệu) đồng, trong đó tiền gốc là 835.608.000 đồng, tiền lãi đến ngày 28/8/2024 là 89.513.000 đồng. Bà T, ông L mỗi người có nghĩa vụ trả số tiền 462.560.500 đồng (bốn trăm sáu mươi hai triệu năm trăm sáu mươi nghìn năm trăm) đồng.
  6. Kể từ sau ngày xét xử (ngày 29/8/2024), bà Phạm Thị Nhật T, ông Nguyễn Đức L không trả số tiền nêu trên, thì hàng tháng bà T, ông L còn phải trả cho bà G số tiền lãi trên số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự cho đến khi thanh toán xong.

  7. Về chi phí giám định chữ ký, chữ viết: Bà Phạm Thị Nhật T có nghĩa vụ trả lại cho bà Trần Thị Kim G số tiền 2.211.000 (hai triệu hai trăm mười một nghìn) đồng.
  8. Kể từ ngày bà Trần Thị Kim G có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Phạm Thị Nhật T không trả số tiền nêu trên, thì hàng tháng bà T còn phải trả cho bà G số tiền lãi trên số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự cho đến khi thanh toán xong.

  9. Về án phí:
  10. - Bà Phạm Thị Nhật T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và 22.502.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, cho khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 002575 ngày 26/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh. Bà T còn phải chịu 22.502.000 (hai mươi hai triệu năm trăm năm lẻ hai nghìn) đồng.

    - Ông Nguyễn Đức L phải chịu 22.502.000 (hai mươi hai triệu năm trăm năm lẻ hai nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

    - Bà Trần Thị Kim G không phải chịu án phí. Hoàn trả cho bà Trần Thị Kim G số tiền 22.740.000 (hai mươi hai triệu bảy trăm bốn mươi nghìn) đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0025469 ngày 09/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.

  11. Quyền kháng cáo: Bà Phạm Thị Nhật T, ông Nguyễn Đức L, bà Trần Thị Kim G có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày tính nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
  12. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND huyện Gò Dầu;
  • - CC.THADS huyện Gò Dầu;
  • - UBND xã Phước Thạnh;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lê Tiến Danh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 113/2024/HNGĐ-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp về ly hôn, nuôi con và nợ chung

  • Số bản án: 113/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn, nuôi con và nợ chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn Đàm Văn D và Đỗ Thị Ngọc D1
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger