Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 113/2024/HS-ST

Ngày 14-6-2024

--------------------

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Vân Thúy

Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Bích Thuỷ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Trọng Tuấn

Bà Nguyễn Thị Hồng Thuý – nguyên là Bí thư

Đoàn TNCS Hồ Chí Minh quận Hồng Bàng

Ông Trần Ngọc Tân

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Minh Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Thuý Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng, xét xử sơ thẩm kín vụ án hình sự thụ lý số: 105/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 31/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Trịnh Văn H, sinh ngày 06 tháng 5 năm 1983, tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Văn Đ (Đã chết) và mẹ là Nguyễn Thị L; có vợ là vợ là Phạm Thị P và 02 con riêng; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 76/2019/HS-PT ngày 20/2/2019 của Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội "Cố ý gây thương tích” (Đã xoá án tích). Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/9/2023, tạm giam ngày 20/9/2023; có mặt;

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Đình H1, sinh năm 1960 – Luật sư Công ty L1 thuộc Đoàn luật sư thành phố H; có mặt;

- Bị hại: Cháu Phạm Lê Hồng N, sinh ngày 22 tháng 7 năm 2016; địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Chị Phạm Thị P, sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt;

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Bà Nguyễn Thị Hồng T, sinh năm 1983 – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước Thành phố H; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chị Phạm Thị P và Trịnh Văn H có đăng ký kết hôn từ tháng 9/2022 và là quan hệ vợ chồng hợp pháp. Cả hai cùng sống chung với 03 con riêng của chị P. trong đó có cháu Phạm Lê Hồng N, sinh ngày 22 tháng 7 năm 2016.

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 05 tháng 7 năm 2023 sau khi ăn cơm xong Hãn về phòng mình ở tầng hai để ngủ trưa. Khi đi qua phòng ngủ của cháu Phạm Lê Hồng N, là con riêng của chị Phạm Thị P, vợ của bị cáo, thấy cháu Phạm Lê Hồng N vẫn còn thức nên H dụ cháu sang phòng mình để cho sử dụng điện thoại di động. Khi cháu N vào phòng thì H chốt cửa rồi bảo cháu N nằm lên giường. Hãn lên giường nằm ôm, hôn cháu N, dùng tay cởi bỏ quần của cháu, ban đầu sờ mó bộ phận sinh dục, sau dùng ngón giữa bàn tay phải đưa vào trong âm đạo của cháu N. Tiếp theo, H tự cởi quần mình rồi chà sát dương vật đang cương cứng vào bộ phận sinh dục của cháu N định đưa vào âm đạo nhưng không thực hiện được vì cháu N kêu đau.

Sau khi không nhìn thấy con gái là cháu Phạm Lê Hồng N ở trong phòng ngủ của các con, chị Phạm Thị P đã xông vào phòng ngủ của vợ chồng thì phát hiện thấy Trịnh Văn H đang trong tình trạng không mặc áo, một tay đang kéo quần lên đến giữa đùi, vẫn hở bộ phận sinh dục, còn cháu N đang ngồi ở góc giường ngủ, không mặc quần. Chị P đến kiểm tra bộ phận sinh dục của cháu N thấy bị sưng đỏ. Biết cháu N bị H xâm hại tình dục nên chị P đã chửi mắng H, sau đó H xin lỗi chị P rồi bỏ đi. Do bản thân chị P lại muốn giữ kín chuyện vì sợ ảnh hưởng đến tương lai của cháu N nên chị P đã không trình báo cơ quan Công an. Từ đó đến ngày 11/9/2023, do vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, cãi chửi nhau, H muốn ly hôn nên chị P đã đến Công an huyện T trình báo. Ngoài ra, chị P còn khai sau khi xảy ra sự việc ngày 05/7/2023 chị có hỏi và được cháu N cho biết trước đó H đã nhiều lần dùng tay sờ mò vào bộ phận sinh dục của cháu N tại phòng tắm của gia đình.

Ngày 12/9/2023 Trịnh Văn H bị bắt theo Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp số 33 ngày 12/9/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T. Trịnh Văn H tự nguyện giao nộp chiếc điện thoại di động Iphone XR màu đen đã qua sử dụng.

Tiến hành khám nghiệm hiện trường, là phòng ngủ của vợ chồng Trịnh Văn H tại tầng 2 căn nhà 03 tầng thuộc thôn Đ, xã H, huyện T, xác định: Phòng có kích thước 4 x 3,5m, phía trong bố trí 01 giường ngủ kích thước 2x1,8m, 01 kệ để đồ cá nhân và 01 cây treo quần áo. Cơ quan điều tra thu giữ 02 quần đùi của H và 01 áo phông ngắn tay màu hồng, 01 quần đùi màu hồng là trang phục cháu N mặc tại thời điểm xảy ra sự việc.

Tại bản Kết luận giám định xâm hại tình dục ở trẻ em số 693/2023/KLTDTE-TTPYHP ngày 13/9/2023 của Trung tâm P kết luận: Không có dấu vết thương tích trên cơ thể và quanh bộ phận sinh dục của cháu Phạm Lê Hồng N; Màng trinh giãn rộng, có vết rách cũ vị trí 11 giờ. Trong âm đạo không có xác tinh trùng.

Về dân sự: Đại diện hợp pháp của cháu Phạm Lê Hồng N không yêu cầu Trịnh Văn H bồi thường.

Vật chứng vụ án: Chuyển Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng quản lý: 02 điện thoại di động, 02 quần đùi, 01 áo phông ngắn tay màu hồng, 01 quần đùi màu hồng.

Tại bản Cáo trạng số 115/CT-VKS-P2 ngày 23 tháng 5 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Trịnh Văn H về tội: “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” theo điểm c khoản 3 Điều 142 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố, do uống rượu nên không làm chủ được bản thân nên bị cáo đã có hành vi xâm hại tình dục đối với bị hại, bị cáo vô cùng ăn năn hối hận, xin lỗi bị hại và gia đình bị hại và đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng sự khoan hồng của pháp luật, cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về với gia đình và xã hội.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa nêu quan điểm luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm c khoản 3 Điều 142; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trịnh Văn H 20 (hai mươi) năm về tội: “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”; không đặt ra vấn đề bồi thường do bị hại không còn yêu cầu; đề nghị xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Không tranh luận về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cho bị cáo được hưởng mức thấp nhất của khung hình phạt để bị cáo có cơ hội sớm trở về với gia đình và xã hội.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại phát biểu: Đồng ý về tội danh, điều luật áp dụng, truy tố đối với bị cáo. Hành vi của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến tinh thần, danh dự, sức khỏe của bị hại, đáng lên án mạnh mẽ vì bị cáo có quan hệ như bố - con với bị hại, có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng, nhưng lại lợi dụng điều đó để xâm hại bị hại. Đề nghị áp dụng tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm k khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo để xử lý nghiêm đối với bị cáo để răn đe và phòng ngừa chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh và tình tiết định khung tăng nặng hình phạt:

[2] Xét thấy, tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi của minh phù hợp với lời khai của bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại cũng như các vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Do ham muốn tình dục, bất chấp luân thường đạo lý, trưa ngày 05/7/2023, Trịnh Văn H đã dụ dỗ bị hại để đưa lên phòng ngủ, ôm, hôn, dùng tay cởi bỏ quần của bị hại, ban đầu sờ mó bộ phận sinh dục, sau dùng ngón giữa bàn tay phải đưa vào trong âm đạo của cháu Phạm Lê Hồng N. Tiếp theo, H tự cởi quần mình rồi chà sát dương vật đang cương cứng vào bộ phận sinh dục của cháu N định đưa vào âm đạo nhưng không thực hiện được vì cháu N kêu đau.

[3] Bị cáo Trịnh Văn H đã có hành vi dùng thủ đoạn dụ dỗ bị hại thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của con gái riêng của vợ là cháu Phạm Lê Hồng N nhằm thỏa mãn nhu cầu tình dục của bản thân. Tại thời điểm bị xâm hại, cháu N mới 06 tuổi 11 tháng 13 ngày. Hành vi của bị cáo Trịnh Văn H đủ yếu tố cấu thành tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” với tình tiết định khung “phạm tội với người dưới 10 tuổi” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 142 của Bộ luật Hình sự.

[4] Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ và đúng pháp luật.

- Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

[5] Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng. Bị cáo lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của cháu bị hại để xâm hại trái ý muốn của cháu Phạm Lê Hồng N là con riêng của vợ bị cáo, là người đáng lẽ bị cáo cần phải có trách nhiệm cùng với chị P chăm sóc nuôi dưỡng nhưng lại có hành vi có tính chất loạn luân, làm băng hoại đạo đức, phong tục truyền thống và an ninh trật tự xã hội, làm ảnh hưởng rất xấu đến tâm sinh lý và sự phát triển bình thường về thể chất, tinh thần, danh dự và nhân phẩm của trẻ em gái; xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về tình dục, danh dự và nhân phẩm của bị hại. Vì vậy, cần thiết phải xử phạt bị cáo một mức án tù nghiêm khắc nhằm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội thời gian dài mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cũng như nhằm bảo vệ sự phát triển bình thường, lành mạnh của trẻ em.

- Về các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

[6] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 01 tiền án mặc dù đã được xóa án tích nên không tính là “tái phạm” song thể hiện bị cáo có nhân thân xấu, không có ý thức cải tạo tu dưỡng thành người có ích cho xã hội lại tiếp tục phạm tội.

Tại phiên toà, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại đề nghị áp dụng thêm tình tiết tăng nặng “phạm tội đối với người lệ thuộc mình về mặt thể chất tinh thần theo quy định tại điểm k khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Xét thấy, bị hại là con riêng của vợ bị cáo, là người sống cùng với bị cáo và chị P, chị P vẫn có trách nhiệm chăm sóc, chu cấp chi phí sinh hoạt hàng ngày cho bị hại nên bị hại không phải là người hoàn toàn lệ thuộc vào bị cáo về vật chất, tinh thần nên Hội đồng xét xử không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm k khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo là có căn cứ.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

- Về trách nhiệm dân sự:

[8] Đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo Trịnh Văn H bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:

[9] Đối với chiếc 01 điện thoại di động Iphone XR màu đen của bị cáo Trịnh Văn H và 01 chiếc điện thoại Samsung A03S, màu đen của chị Phạm Thị P, do không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho chị Phạm Thị P và bị cáo Trịnh Văn H nhưng của bị cáo cần tạm giữ để bảo đảm việc thi hành án.

[10] Đối với 02 quần đùi, 01 áo phông ngắn tay màu hồng, 01 quần đùi màu hồng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu huỷ.

- Về án phí hình sự sơ thẩm:

[11] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

- Về quyền kháng cáo:

[12] Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác được quyền kháng cáo theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 142; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; của Bộ luật Hình sự:

    Tuyên bố bị cáo Trịnh Văn H phạm tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”

    Xử phạt bị cáo Trịnh Văn H 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19 tháng 11 năm 2023.

  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • - Trả lại cho bị cáo Trịnh Văn H 01 điện thoại di động Iphone XR màu đen nhưng được tạm giữ để bảo đảm việc thi hành án;
    • - Trả lại chị Phạm Thị P 01 điện thoại di động Samsung A03S màu đen.
    • - Tịch thu tiêu hủy: 02 quần đùi, 01 áo phông ngắn tay màu hồng, 01 quần đùi màu hồng

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28 tháng 5 năm 2024).

  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Trịnh Văn H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án; bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết hợp lệ.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TANDCC; VKSNDCC;
  • - Vụ 1- TANDTC;
  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - PV06 Công an TP Hải Phòng; PC10
  • - Cục THADS TP Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp TP Hải Phòng;
  • - Bị cáo; Trại tạm giam;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Phòng KTNV và THA
  • - Lưu: HS, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Vân Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 113/2024/HS-ST ngày 14/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hiếp dâm người dưới 16 tuổi

  • Số bản án: 113/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hiếp dâm người dưới 16 tuổi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trịnh Văn H hiếp dâm người dưới 16t
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger