|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 113/2023/HS-PT Ngày: 20 - 12 - 2023 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Đào Vi .
Các Thẩm phán: Ông Trần Ngọc Tú và ông Lê Vũ Tiến.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tường Vy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Ông Lê Phước Ngưỡng - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 12 năm 2023 tại Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 98/2023/TLPT-HS ngày 03 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo Trần Hữu K do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 290/2023/HS-ST ngày 21 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Huế. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 220/2023/QĐXXPT-HS ngày 04 tháng 12 năm 2023.
Bị cáo có kháng cáo: Trần Hữu K (tên gọi khác: T), sinh ngày: 07/7/1995 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Thôn P, xã P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Thợ sơn PU; trình độ học vấn: 6/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần T1 (đã chết) và bà Lê Thị N, sinh năm 1968; có vợ là: Chị Nguyễn Thị K1, sinh năm 1995 và có 01 con; tiền án: Không; tiền sự: có 01 tiền sự (Ngày 01/6/2022 bị Công an xã P, thành phố H xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng rượu, bia, chất kích thích gây mất trật tự công cộng” theo Quyết định số 5221/QĐ-XPHC); nhân thân: Ngày 15/5/2019 bị Công an huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 2.000.000 đồng về hành vi “Xâm hại sức khỏe người khác” theo Quyết định số 6604/QĐ-XPVPHC; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/3/2023 cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt tại phiên toà.
Trong vụ án còn có 02 bị cáo khác nhưng không kháng cáo.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có mâu thuẫn từ trước nên vào khoảng 19 giờ ngày 12/12/2022, Đặng Ngọc T2 và Trần Hữu K sử dụng mạng xã hội Facebook để nhắn tin chửi bới rồi thách thức đánh nhau, T2 hỏi K đang ở đâu thì K trả lời là đang ở nhà. Lúc này, K đang ngồi nhậu với Dương Văn H tại nhà mình ở thôn P, xã P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Khoảng 15 phút sau, T2 mang theo một cây đao dài khoảng 82cm rồi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 75H1- 480.91 đến nhà của K. T2 thấy K và H đang ngồi ở bàn salon giữa nhà thì cầm cây đao xông vào cách vị trí K ngồi khoảng 70cm và vung đao chém về phía Kế. Thấy vậy K đưa tay trái lên đỡ thì bị chém trúng bị thương nên bỏ chạy về phía kệ ti vi gần đó. T2 quay lại định chém H thì H cũng vùng bỏ chạy theo cửa hông xuống nhà bếp ẩn nấp.
Lúc này, T2 tiếp tục đuổi chém K, K chạy quanh bộ bàn ghế salon nên T2 không chém được. Khi K chạy ra khu vực giữa gian thờ thì chụp được tay cầm đao của T2, rồi ôm, khóa lại không cho T2 vùng ra và kêu lớn “H ơi cứu anh, H ơi cứu anh”. H nghe tiếng kêu cứu của K liền đến kệ bếp lấy con dao dài khoảng 35cm chạy lên đứng phía sau lưng T2, K thấy T2 cầm dao nên ôm chặt T2 để H đứng phía sau chém vào vùng lưng bên trái của T2 03 cái. Tiếp đến, K vật ngã T2 xuống nền nhà, nhưng do thương tích ở tay đau nên K bị Trung vật lại. Kế nằm phía dưới mặt hướng lên trần nhà, T2 nằm phía trên người Kế mặt về phía nền nhà, còn H thì cầm dao đứng phía dưới chân của T2. Thấy vậy, K nằm dưới ôm, khóa chặt T2 nằm ở trên để cho H dùng dao chém liên tiếp khoảng 10 cái vào vùng cổ chân phải và trái, rồi chém 01 cái vào cổ tay trái của T2. Khi thấy T2 nằm im, không động đậy và chảy nhiều máu thì H dừng chém. Kế thấy thế cũng đẩy T2 ra rồi đứng dậy la hét, dùng lon bia ném vỡ màn hình ti vi của mình. Sau đó, K, H gọi xe cấp cứu và báo sự việc cho cơ quan Công an.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tổn thương cơ thể số 14-23/TgT ngày 18/01/2023 của Trung tâm Giám định Y khoa - Pháp Y tỉnh T, xác định thương tích của Đặng Ngọc T2 như sau:
Dấu hiệu chính qua giám định:
Chạm thương phần mềm thái dương trái đã lành, không để lại dấu vết: 0%.
Vết thương phức tạp cổ tay trái đứt lô gân gấp, đứt thần kinh giữa và thần kinh quay đoạn nhánh cổ tay trái đã phẫu thuật khâu nối, chưa đánh giá di chứng chức năng: 23%.
Đa vết thương phần mềm vùng lưng trái để lại sẹo trung bình (03 vết): 6%.
Vết thương phần mềm trên mắt cá trong chân phải để lại sẹo nhỏ: 1%.
Vết thương phần mềm mặt trong cổ chân phải đứt lô gân gấp đã khâu nối, chưa đánh giá di chứng chức năng: 3%.
Vết thương đứt gân gót phải đã phẫu thuật khâu nối, chưa đánh giá di chứng chức năng: 11%.
Vết thương phần mềm mặt ngoài cổ chân trái đứt lô gân đã phẫu thuật khâu nối, chưa đánh giá di chứng chức năng: 3%.
Vết thương phần mềm mặt trước cẳng chân trái và mặt ngoài cổ chân trái để lại sẹo nhỏ (05 vết): 5%.
Chấn thương cổ chân trái gãy xương mác trái đã phẫu thuật kết hợp xương, chưa đánh giá di chứng chức năng: 3%.
Vết thương phần mềm mặt trong cổ chân trái đứt gân gấp đã khâu nối để lại sẹo, chưa đánh giá di chứng chức năng: 3%.
Tỷ lệ tổn thương cơ thể hiện tại là: 46%.
Vật gây, cơ chế hình thành thương tích:
Tổn thương ở tay trái, lưng và hai chân do vật sắc tác động.
Tại bản Kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 94-23/KLTTCT-GĐPY ngày 15/3/2023 của Trung tâm Giám định Y khoa - Pháp y tỉnh T, xác định thương tích của Đặng Ngọc T2 như sau:
Các kết quả chính:
- Kết quả khám giám định:
Chạm thương phần mềm thái dương trái đã lành, không để lại dấu vết: 0%.
Vết thương phức tạp cổ tay trái đứt lô gân gấp, đứt thần kinh giữa và thần kinh quay đoạn nhánh cổ tay trái đã phẫu thuật khâu nối, chức năng cổ-bàn ngón tay trái trong giới hạn bình thường: 23%.
Đa vết thương phần mềm vùng lưng trái để lại sẹo trung bình (03 vết): 6%.
Vết thương phần mềm trên mắt cá trong chân phải để lại sẹo nhỏ: 1%.
Vết thương phần mềm mặt trong cổ chân phải đứt lô gân gấp đã khâu nối: 3%.
Vết thương đứt gân gót phải đã phẫu thuật khâu nối, hạn chế chức năng bàn chân phải: 15%.
Vết thương phần mềm mặt ngoài cổ chân trái đứt lô gân đã phẫu thuật khâu nối, không ảnh hưởng chức năng: 3%.
Vết thương phần mềm mặt trước cẳng chân trái và mặt ngoài cổ chân trái để lại sẹo nhỏ (05 vết): 5%.
Chấn thương cổ chân trái gãy xương mác trái đã phẫu thuật kết hợp xương, không ảnh hưởng chức năng: 3%.
Vết thương phần mềm mặt trong cổ chân trái đứt gân gấp đã khâu nối để lại sẹo, không ảnh hưởng chức năng: 3%.
Kết luận:
- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần quy định, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đặng Ngọc T2 tại thời điểm giám định là: 49%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
- Kết luận khác: Tổn thương ở tay trái, lưng và hai chân do vật sắc tác động theo nhiều chiều hướng khác nhau.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tổn thương cơ thể số 13-23/TgT ngày 16/01/2023 của Trung tâm Giám định Y khoa - Pháp y tỉnh T, xác định thương tích của Trần Hữu K như sau:
Dấu hiệu chính qua giám định:
Vết thương phần mềm 1/3 giữa cánh tay trái đứt bán phần cơ tam đầu đã phẫu thuật khâu nối.
Tỷ lệ tổn thương cơ thể hiện tại là: 3%.
Vật gây, cơ chế hình thành thương tích:
Tổn thương cánh tay trái do vật sắc tác động vào mặt sau cánh tay phù hợp với tư thế chống đỡ.
Vật chứng thu giữ: 01 cây đao bằng kim loại dài 82cm; 01 cây dao bằng kim loại sáng màu dài 35cm; 01 điện thoại di động hiệu Realme màu đỏ.
Về bồi thường dân sự: Bị cáo Dương Văn H và gia đình, bị cáo Trần Hữu K đã bồi thường cho Đặng Ngọc T2 tổng số tiền là 17.500.000 đồng. T2 đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu gì thêm. Trần Hữu K không yêu cầu Đặng Ngọc T2 bồi thường.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 290/2023/HS-ST ngày 21/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Huế đã áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Dương Văn H và Trần Hữu K; áp dụng điểm d khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đặng Ngọc T2. Tuyên bố: Bị cáo Dương Văn H, Trần Hữu K và Đặng Ngọc T2 phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Xử phạt bị cáo Dương Văn H 06 (S) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam (Ngày 28/3/2023). Xử phạt bị cáo Trần Hữu K 05 (Năm) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam (Ngày 28/3/2023). Xử phạt bị cáo Đặng Ngọc T2 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng theo luật định.
Ngày 27/9/2023, bị cáo Trần Hữu K có Đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Hữu K vẫn giữ nguyên kháng cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế có quan điểm về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Hữu K, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Trần Hữu K được làm trong thời hạn kháng cáo và có nội dung phù hợp với quy định tại các Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận để xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa phúc thẩm, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã đủ cơ sở kết luận: Do có mâu thuẫn từ trước giữa Đặng Ngọc T2 và Trần Hữu K nên khoảng 19 giờ 15 phút ngày 12/12/2022, Đặng Ngọc T2 đến nhà của Trần Hữu K tại thôn P, xã P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, T2 sử dụng đao dài khoảng 82 cm là hung khí nguy hiểm chém gây thương tích cho K với tỷ lệ tổn thương cơ thể 03%, K có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự nên T2 phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình gây ra.
Sau khi bị chém thì Trần Hữu K ôm Đặng Ngọc T2 lại để cho Dương Văn H sử dụng con dao dài 35cm chém 03 nhát vào vùng lưng và khoảng 10 nhát vào vùng cổ chân phải và trái, rồi chém 01 cái vào cổ tay trái của T2, tỷ lệ tổn thương cơ thể của Đặng Ngọc T2 là 49%.
Do dao là hung khí nguy hiểm nên K và H đều phạm vào tình tiết “dùng hung khí nguy hiểm” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Đặng Ngọc T2 là 49% nên Dương Văn H và Trần Hữu K bị truy tố và xét xử về tội: Cố ý gây thương tích theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Đối với bị cáo Đặng Ngọc T2 bị Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo Bản án số 235/2020/HS-ST vào ngày 30/9/2020 với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm, đến ngày 16/12/2021, T2 chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này bị cáo đã phạm vào tình tiết tăng nặng định khung là “Tái phạm nguy hiểm”.
Với hành vi nêu trên, Tòa án nhân dân thành phố Huế đã xét xử bị cáo Trần Hữu K, Dương Văn H về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134; xét xử bị cáo Đặng Ngọc T2 về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo Trần Hữu K về việc xin được giảm nhẹ hình phạt, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
Bị cáo Trần Hữu K là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc xâm phạm sức khoẻ người khác là vi phạm pháp luật, bản thân bị cáo đã từng bị cơ quan chức năng xử phạt về hành vi “Sử dụng rượu, bia, chất kích thích gây mất trật tự công cộng” và hành vi “Xâm hại sức khoẻ người khác” nhưng không lấy đó là bài học rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, là coi thường pháp luật. Lần phạm tội này, dù bị cáo là người bị tấn công trước nhưng sau đó lại ôm Đặng Ngọc T2 lại để Dương Văn H dùng dao chém nhiều nhát vào vùng lưng và chân gây tổn thương cơ thể cho T2 là 49%, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, vì vậy cần phải xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Toà án cấp sơ thẩm đã áp dụng điểm c khoản 3, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Hữu K mức hình phạt 05 năm 06 tháng tù giam là không nặng, đã đánh giá đúng mức độ nguy hiểm, cân nhắc kĩ đến nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo Trần Hữu K không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì mới để xin giảm nhẹ hình phạt, nên Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
[4] Quá trình giải quyết ở cấp phúc thẩm, chị Nguyễn Thị K1 là vợ của bị cáo Trần Hữu K có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tuy nhiên, chị K1 không phải là người có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[6] Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Hữu K; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 290/2023/HS-ST ngày 21/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Tuyên bố bị cáo Trần Hữu K phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Hữu K 05(năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 28/3/2023.
Án phí hình sự phúc thẩm:
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14; Buộc bị cáo Trần Hữu K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Đào Vi |
Bản án số 113/2023/HS-PT ngày 20/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 113/2023/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 05 năm 06 tháng tù giam.
