TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 113/2024/HS- ST
Ngày 18 tháng 7 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC - TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Ông Lâm Thanh Điền
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Trần Văn Thuận
2/ Ông Trần Ngọc Quân
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Trà My – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Vinh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 86/2024/TLST- HS ngày 16 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2024/QĐXXST- HS ngày 14 tháng 6 năm 2024 và theo Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2024/HSST-QĐ, ngày 03 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Võ Tấn L; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 15 tháng 6 năm 1992. Tại: Rạch G- Kiên Giang; Nơi ĐKTT: 3 T khu phố Đ, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang; Chỗ ở: Không có chỗ ở ổn định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Cha: Võ Văn L1, sinh năm: 1967; Mẹ: Nguyễn Thị T, sinh năm: 1971; Anh, chị: 02 người, lớn sinh năm 1989, nhỏ sinh năm 1990; Bị cáo có vợ nhưng đã ly hôn, con có 01 người tên Võ Thiên P, sinh năm 2009.
* Tiền án, tiền sự: Chưa.
Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ– Công an thành phố P
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
* Bị hại:
1/ Vợ chồng ông Ngô Văn H, sinh năm 1984 và bà Vũ Thị L2, sinh năm 1987, vắng mặt.
2/ Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1990, vắng mặt
Cùng địa chỉ: Ấp S, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
3/ Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1990, có đơn xin vắng mặt
Địa chỉ: Khu phố D, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Võ Văn L1, sinh năm 1967, vắng mặt
Địa chỉ: Số A N, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào năm 2018, Võ Tấn L nhặt được 01 chứng minh nhân dân và 01 bằng lái xe hạng D mang tên Lý Hoàng N2 tại thành phố R. Sau đó, L lấy ảnh của L thay vào ảnh trong giấy chứng minh nhân dân và bằng lái xe của Lý Hoàng N2. Đến đầu năm 2020, L dùng giấy chứng minh và bằng lái xe giả danh Lý Hoàng N2 đến xin việc tại Công ty C1 do anh Ngô Sỹ C làm chủ tại ấp Đ, xã D, huyện P (nay là thành phố P), tỉnh Kiên Giang. Trong quá trình làm việc tại đây, do thiếu tiền tiêu xài nên L nói gạt lừa anh Ngô Văn H thuê xe mô tô thời hạn lâu dài để cho người khác thuê lại kiếm tiền lời. Nhưng thực ra L thuê xe đem cầm cố lấy tiền tiêu xài. Cũng trong thời gian thuê xe của anh H, L tự giới thiệu mình có khả năng nhận hồ sơ thi giấy phép lái xe hạng B2 cho người khác và nói với anh H nếu ai có nhu cầu học thì giới thiệu cho L. Nghe vậy, anh H giới thiệu lại cho Vũ Thị L2, Nguyễn Thị N và Nguyễn Duy H1 rồi nói lại cho L biết những người này có nhu cầu nộp hồ sơ. L nhận hồ sơ của những người trên và yêu cầu mỗi người phải chuyển trước từ 4.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng. Sau đó, L gửi số tài khoản của L số 0700884420851 mở tại ngân hàng S và số tài khoản số 7790205261894 mở tại ngân hàng A đều cùng chủ tài khoản là Võ Tấn L và L tự giới thiệu Võ Tấn L là thầy giáo dạy lái xe tại Sở Giao thông vận tải tỉnh K. Trong khoảng thời gian từ tháng 03/2020 đến tháng 05/2020, Võ Tấn L sử dụng thủ đoạn trên nhiều lần chiếm đoạt tài sản của nhiều người cụ thể như sau.
Lần thứ nhất: Ngày 09/03/2020, Võ Tấn L sử dụng giấy chứng minh nhân dân mang tên Lý Hoàng N2 và giả danh Lý Hoàng N2 đến Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên M tại ấp S, xã D, huyện P (nay là thành phố P), tỉnh Kiên Giang thuê xe mô tô của anh H1 nhãn hiệu Honda, số loại Airblade, màu bạc đen, biển kiểm soát 68P1-510.50. Sau khi thuê xe mô tô L mang sang thành phố R, tỉnh Kiên Giang cầm cố cho người thanh niên (chưa rõ nhân thân) lấy tiền tiêu xài cá nhân (Bút lục số: 111, 113 và 121).
Lần Thứ hai: Ngày 26/3/2020, Võ Tấn L tiếp tục giả danh Lý Hoàng N2 đến gặp anh Ngô Văn H tại ấp S, xã D, huyện P thuê xe mô tô của anh H nhãn hiệu Honda, số loại Airblade, màu đen đỏ, biển kiểm soát 68P1-571.47. Sau đó, L mang xe thuê được sang thành phố R cầm cố cho người thanh niên (chưa rõ nhân thân) tại thành phố R, lấy tiền tiêu xài (Bút lục số: 112, 114 và 123).
Lần thứ ba: Ngày 08/4/2020, Võ Tấn L tiếp tục giả danh Lý Hoàng N2 đến gặp anh Ngô Văn H tại ấp S, xã D, thành phố P thuê xe mô tô nhãn hiệu Honđa, số loại SH1251, màu đen, biển kiểm soát 68P1-520.23. Sau đó, L mang xe thuê được sang thành phố R cầm cố cho người thanh niên (chưa rõ nhân thân) tại thành phố R, lấy tiền tiêu xài (Bút lục số: 72, 74, 76 và 124).
Lần Thứ tư: Ngày 05/5/2020, Võ Tấn L tiếp tục giả danh Lý Hoàng N2 đến gặp anh Ngô Văn H tại ấp S, xã D, thành phố P thuê xe mô tô của anh H nhãn hiệu Honđa, số loại SH 501, màu trắng đen, biển kiểm soát 59 D2-161.22. Sau đó, L mang xe thuê được đưa về nhà cha ruột là ông Võ Văn L1 tại phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang cất giấu rồi bỏ trốn, số tiền cầm cố 03 xe mô tô được 36.000.000 đồng L đã tiêu xài cá nhân hết. Sau khi ông L1 biết xe mô tô trên do L phạm tội mà có nên đã giao nộp cho Cơ quan điều tra (Bút lục số: 105, 107 và 126).
Lần thứ năm: Ngày 16/4/2020, sau khi nghe Võ Tấn L giả danh Lý Hoàng Nam giới thiệu quen biết với thầy giáo đang dạy giấy phép lái xe hạng B2 tại Sở Giao thông vận tải tỉnh K tên Võ Tấn L, L lo được việc thi giấy phép lái xe nên anh Ngô Văn H (chồng chị Vũ Thị L2) tin tưởng nộp hồ sơ cho chị L2 để học giấy phép lái xe tại nhà anh H và chuyển vào số tài khoản của Võ Tấn L mở tại ngân hàng S số tiền 4.000.000 đồng, nộp cho chị Vũ Thị L2, L nhận hồ sơ của chị L2 và rút tiền tiêu xài hết (Bút lục số: 113, 115 và 116).
Lần thứ sáu: Ngày 13/5/2020, nghe anh Ngô Văn H nói, chị Vũ Thị L2 chuyển số tiền 2.500.000 đồng (trong đó số tiền 2.000.000 đồng chuyển giùm cho chị Nguyễn Thị N) và chị Nguyễn Thị N giao nộp hồ sơ cho Võ Tấn L tại nhà anh H và chuyển số tiền 2.500.000 đồng vào số tài khoản tại ngân hành S của Võ Tấn L để cho N học giấy phép lái xe, L nhận hồ sơ của chị N và rút tiền tiêu xài hết (Bút lục số: 73, 75, 77 và 119).
Lần thứ bảy: Ngày 20/5/2020 nghe anh Ngô Văn H giới thiệu chị Nguyễn Thị N1 (vợ anh Nguyễn Duy H1) chị N1 nộp hồ sơ cho anh Duy H1 rồi chuyển số tiền 4.800.000 đồng vào số tài khoản tại ngân hàng A1 của Võ Tấn L để anh Duy H1 học giấy phép lái xe. L nhận hồ sơ của anh Duy H1 và rút tiền tiêu xài hết. Sau đó, Võ Tấn L bỏ trốn. Ngày 08/02/2021, Võ Tấn L bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P khởi tố và truy nã. Đến ngày 21/12/2023, Võ Tấn L bị bắt theo quyết định truy nã và bị tạm giam để điều tra (Bút lục số: 33, 34, 126, 127 và 128).
Bị cáo phạm tội có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội nhiều lần. Quá trình điều tra, truy tố bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình.
* Việc thu giữa, tạm giữ tài liệu, đồ vật:
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại SH501, biển số 59 D1-161.22, màu trắng đen, đã qua sử dụng.
- - 01 giấy chứng minh nhân dân, 01 giấy phép lái xe hạng D mang tên Lý Hoàng N2 và 03 xe mô tô, Cơ quan điều tra Công an thành phố P đã truy tìm, nhưng không thu hồi được.
(Bút lục số: 09, 142 và 182).
* Tại bản kết luận định giá tài sản số 76 ngày 06/11/2020, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận.
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Airblade, màu bạc đen, biển kiểm soát 68P1-510.50, đã qua sử dụng. Tại thời điểm ngày 09/3/2020, trị giá 29.400.000 đồng.
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Airblade, màu đen đỏ, biển kiểm soát 68P1-571.47, đã qua sử dụng. Tại thời điểm ngày 09/3/2020, trị giá 36.000.000 đồng.
- - 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honđa, số loại SH1251, màu đen, biển kiểm soát 68P1-520.23, đã qua sử dụng. Tại thời điểm ngày 09/3/2020, trị giá 54.600.000 đồng.
- - 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honđa, số loại SH 501, màu trắng đen, biển kiểm soát 59D2-161.22, đã qua sử dụng. Tại thời điểm ngày 09/3/2020, trị giá 49.000.000 đồng.
Tổng giá trị 04 chiếc xe mô tô là 169.000.000 đồng.
(Bút lục số: 15, 16).
* Tại bản cáo trạng số 90/CT- VKSPQ, ngày 14 tháng 5 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đã truy tố bị cáo Võ Tấn L về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c, khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017;
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Võ Tấn L về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017;
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c, khoản 2 Điều 174 BLHS; điểm s khoản 1, Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt: Võ Tấn L từ 05 (năm) năm đến 06 (sáu) năm tù giam.
* Về xử lý vật chứng: Trả lại cho chủ sở hữu 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại SH501, biển số 59 D1-161.22, màu trắng đen, đã qua sử dụng. (Bút lục số: 145).
* Về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ án xảy ra, bị hại Ngô Văn H yêu cầu bồi thường 03 xe mô tô với tổng số tiền 120.000.000 đồng; Bị hại Nguyễn Thị N1 yêu cầu bồi thường số tiền 4.800.000 đồng; Bị hại Nguyễn Thị N yêu cầu bồi thường 4.500.000 đồng; Bị hại Vũ Thị L2 yêu cầu bồi thường 4.500.000 đồng, bị cáo đồng ý, nhưng chưa bồi thường.
Đối với người thanh niên chưa rõ nhân thân tại thành phố R cầm cố 03 xe mô tô của Võ Tấn L, Cơ quan điều tra đang tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.
Đối với ông Võ Văn L1 khi L đem xe về nhà cất giấu, ông L1 không biết xe mô tô do L phạm tội mà có nên không xử lý.
Đối với hành vi Võ Tấn L sử dụng ảnh của L dán lên giấy chứng minh nhân dân và giấy phép lái xe. Hiện nay giấy chứng minh nhân dân và giấy phép lái xe hạng D mà L sử dụng đã bị mất không thu hồi được nên không xử lý.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Võ Tấn L thừa nhận hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác là sai và vi phạm pháp luật.
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân thành phố P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự và không bị khiếu nại. Tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Người bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt và vắng mặt lần hai không lý do, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt lần thứ hai không lý do việc vắng mặt của Người bị hại và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án, do đó căn cứ vào khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự. Hội đồng xét xử thống nhất xét xử vắng mặt người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[3] Về hành vi bị truy tố của bị cáo:
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Võ Tấn L thừa nhận bản thân đã nhiều lần thực hiện hành vi gian dối để chiếm đoạt tài sản của bị hại Ngô Văn H 04 xe mô tô trị giá 169.000.000 đồng và giả danh quen biết giáo viên dạy lái xe hạng B2 để lừa các bị hại là bà Nguyễn Thị N1 và bà Nguyễn Thị N và bà Nguyễn Thị L3 với tổng giá trị là 13.800.000 đồng. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo lừa đảo chiếm đoạt được là 182.800.000 đồng đúng như truy tố của Viện kiểm sát.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra cũng như lời khai của người bị hại có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Võ Tấn L đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 2 Điều 174 BLHS năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 như kết luận của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc là hoàn toàn có căn cứ và đúng quy định pháp luật.
[4] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo L là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây thiệt hại lớn về vật chất cho người bị hại, thể hiện sự bất chấp, xem thường kỷ cương pháp luật. Vì vậy, cần phải xử bị cáo một mức án thật nghiêm để đủ sức răn đe và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo L 07 lần thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của các bị hại nên thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự là phạm tội hai lần trở lên.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
[6] Về các vấn đề khác:
* Về xử lý vật chứng:
Đã trả lại cho chủ sở hữu 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại SH501, biển số 59D1-161.22, màu trắng đen, đã qua sử dụng. Hội đồng xét xử miễn xét.
* Về trách nhiệm dân sự:
Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự và Điều 589 Bộ luật dân sự buộc bị cáo Võ Tấn L phải bồi thường cho Ngô Văn H số tiền 120.000.000 đồng, bồi thường cho Nguyễn Thị N1 số tiền 4.800.000 đồng, bồi thường cho Vũ Thị L2 số tiền 4.500.000 đồng và bồi thười cho Nguyễn Thị N 4.500.000 đồng.
Việc giao nhận tiền được thực hiện tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc tại thời điểm Bản án có hiệu lực pháp luật.
Đối với người thanh niên chưa rõ nhân thân tại thành phố R cầm cố 03 xe mô tô của Võ Tấn L, Cơ quan điều tra đang tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.
Đối với ông Võ Văn L1 khi L đem xe về nhà cất giấu, ông L1 không biết xe mô tô do L phạm tội mà có nên không xử lý.
Hội đồng xét xử miễn xét.
Đối với hành vi Võ Tấn L sử dụng ảnh của L dán lên giấy chứng minh nhân dân và giấy phép lái xe. Hiện nay giấy chứng minh nhân dân và giấy phép lái xe hạng D mà L sử dụng đã bị mất không thu hồi được nên không xử lý.
[7]. Về quan điểm của Viện kiểm sát: Về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và xử lý vật chứng mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ, HĐXX xem xét khi lượng hình.
[8] Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Võ Tấn L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Ngoài ra bị cáo còn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải bồi thường là 133.800.000 đồng x 5% = 6.690.000 đồng (Sáu triệu, sáu trăm, chín mươi nghìn đồng) nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ pháp luật: Áp dụng điểm c, khoản 2 Điều 174 BLHS; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
2. Tuyên bố: Bị cáo Võ Tấn L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt: Võ Tấn Lộc 05 (năm) năm tù giam. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 21/12/2023 ngày mà bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam.
3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự và Điều 589 Bộ luật dân sự buộc bị cáo Võ Tấn L phải bồi thường cho Ngô Văn H số tiền 120.000.000 đồng, bồi thường cho Nguyễn Thị N1 số tiền 4.800.000 đồng, bồi thường cho Vũ Thị L2 số tiền 4.500.000 đồng và bồi thường cho Nguyễn Thị N 4.500.000 đồng.
Việc giao nhận tiền được thực hiện tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc tại thời điểm Bản án có hiệu lực pháp luật.
Đối với người thanh niên chưa rõ nhân thân tại thành phố R cầm cố 03 xe mô tô của Võ Tấn L, Cơ quan điều tra đang tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.
Đối với ông Võ Văn L1 khi L đem xe về nhà cất giấu, ông L1 không biết xe mô tô do L phạm tội mà có nên không xử lý.
Đối với hành vi Võ Tấn L sử dụng ảnh của L dán lên giấy chứng minh nhân dân và giấy phép lái xe. Hiện nay giấy chứng minh nhân dân và giấy phép lái xe hạng D mà L sử dụng đã bị mất không thu hồi được nên không xử lý. Hội đồng xét xử miễn xét.
4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Võ Tấn L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Ngoài ra bị cáo còn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải bồi thường là 6.690.000 đồng (Sáu triệu, sáu trăm, chín mươi nghìn đồng) nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc.
Án xử công khai báo cho bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Các bị hại và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản sao bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử vụ án theo trình tự phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Lâm Thanh Điền |
Bản án số 113/2024/HS- ST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC TỈNH KIÊN GIANG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 113/2024/HS- ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
