Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN TÂN BÌNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 113/2024/HS-ST

Ngày         : 16/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH - TP. HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Thiện

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Tấn Nghiệp

Ông Lê Thanh Hải

Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Ngọc Lữ – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lâm Như Quỳnh - Kiểm sát viên

Ngày 16 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 113/TLST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 142/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Vũ Minh H, sinh ngày 26 tháng 5 năm 2003 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký thường trú: Z, phường X, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Không rõ và bà: Vũ Thị D; Vợ con: Không có; Tiền án: Bản án số 46/2021/HSST ngày 17/3/2021 Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, Bản án số 155/HSST ngày 23/8/2022 Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/7/2023 ; Tiền sự: ngày 02/5/2020 bị Công an Phường C, Quận 11 xử phạt hành chính số tiền 2.550.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác”; Bị bắt, tạm giam: 22/12/2023. Có mặt.
  2. Ngô Chí N, sinh ngày 10 tháng 6 năm 2003 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký thường trú: V, phường B, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trương P (chết) và bà: Ngô Thị H1; Vợ con: Không có; Tiền án: Bản án số 24/2020/HS-ST ngày 06/5/2020 Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, Bản án số 145/2020/HSST ngày 23/12/2020 Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, tổng hợp hình phạt với Bản án số 24/2020/HS-ST ngày 06/5/2020 Tòa án nhân dân Quận 11, bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 04 năm 06 tháng tù, chấp hành xong bản án ngày 09/7/2023; Tiền sự: Không; Bị bắt, tạm giam: 25/01/2024. Có mặt.
  3. Trần Quang S, sinh ngày 17 tháng 12 năm 2003 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký thường trú: N1, phường M, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Quang G và bà: Nguyễn Thị Kim P1; Vợ con: Không có; Tiền án: Bản án số 103/2021/HSST ngày 19/11/2021 Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/8/2023; Tiền sự: Không; Bị bắt, tạm giam: 30/9/2023. Có mặt.
  4. Nguyễn Đình T, sinh ngày 17 tháng 02 năm 2002 tại Đắk Lắk; Nơi đăng ký thường trú: xã A, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk; Nơi cư trú: F, phường J, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn N2 và bà: Đào Thị Tuyết D1; Vợ con: Không có; Tiền án: Bản án số 46/2021/HSST ngày 17/3/2021 Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/2/2023; Tiền sự: Không; Bị bắt, tạm giam: 22/12/2023. Có mặt.

- Bị hại: Chị Võ Nguyên Yến M1, sinh năm 2001; Địa chỉ: K, phường L, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có nghề nghiệp và cần tiền tiêu xài, đêm khuya ngày 27/9/2023 trong lúc uống cà phê tại địa chỉ phường Q, quận Tân Phú, Vũ Minh H rủ Nguyễn Đình T, Trần Quang S và Ngô Chí N đi cướp giật tài sản bán lấy tiền chia nhau tiêu xài. Sau đó, Vũ Minh H điều khiển xe Yamaha Sirius (Không rõ biển số xe) chở Nguyễn Đình T, Ngô Chí N điều khiển xe Yamaha Exciter, biển số 59G1-508.84 chở Trần Quang S, lưu thông trên các tuyến đường tìm người có tài sản để cướp giật. Đến khoảng 03 giờ ngày 28/9/2023, khi lưu thông đến trước địa chỉ phường R, quận Tân Bình, S và N nhìn thấy chị Võ Nguyên Yến M1 đang ngồi sau xe do bạn chở, trên tay chị M1 đang cầm một điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax, N liền điều khiển xe máy biển số 59G1-508.84 chở S, từ phía sau vượt lên, áp sát vào phía bên trái xe của chị M1 để S dùng tay phải cướp giật được chiếc Iphone 13 Promax của chị M1. Sau đó, N điều khiển xe chở S tẩu thoát, đến trước địa chỉ số 83A Đông Hồ, Phường X, quận Tân Bình thì dừng lại, lúc này H và T cũng vừa chạy đến. Cả nhóm chạy xe đến trước hẻm U, Phường M, quận Tân Bình, S đưa điện thoại vừa cướp giật được cho H, để H và T đem đi bán, riêng N và S chạy về đậu xe tại trước chung cư I, quận Tân Phú để chờ H và T đến. Sau đó, H điện thoại cho bạn (Không rõ nhân thân lai lịch và địa chỉ) nhờ tìm người mua chiếc Iphone 13 Promax của chị M1, do máy có cài đặt iCloud nên không ai mua. Sau đó, H và T chạy đến và thông báo chiếc máy điện thoại vừa cướp giật không bán được. Do sợ bị Công an kiểm tra, nên N cầm chiếc Iphone 13 Promax bỏ trên bãi cỏ phía trước chung cư, đậu chiếc xe máy biển số 59G1-508.84 gần đó rồi đi bộ ra xa một đoạn để nói chuyện với S, H và T. Một lúc sau thì N bảo S đến lấy xe và chiếc Iphone 13 Promax đã cướp giật được của chị M1 để chở N đi về. Cùng lúc này, chị M1 rà theo định vị điện thoại thì phát hiện tri hô được quần chúng hỗ trợ bắt giữ S cùng chiếc Iphone 13 Promax cướp giật được. Riêng N, H và T bỏ chạy thoát. Qua điều tra truy xét, ngày 22/12/2023 Cơ quan CSĐT Công an quận Tân Bình bắt giữ được Vũ Minh H và Nguyễn Đình T và đến ngày 24/01/2024 đã bắt giữ được Ngô Chí N.

Quá trình điều tra, các bị can Ngô Chí N, Trần Quang S, Vũ Minh H và Nguyễn Đình T khai nhận hành vi phạm tội như nêu trên, phù hợp với lời khai người bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được.

Ngoài ra, Vũ Minh H khai nhận cùng với Trần Quang S và Ngô Chí N thực hiện 02 vụ cướp giật điện thoại di động tại trước địa chỉ Phường O, quận Tân Bình và tại trước địa chỉ Phường L, quận Tân Bình vào khoảng tháng 09/2023. Tuy nhiên, bị can S và N không thừa nhận đã cùng với H thực hiện 02 vụ cướp giật tài sản trên. Kết quả xác minh tại Công an O, quận Tân Bình và Công an Phường L, quận Tân Bình không có xảy ra vụ việc cướp giật tài sản tại địa chỉ trên và không có ai đến trình báo sự việc bị cướp giật tài sản. Cơ quan điều tra đã đăng báo tìm bị hại, điều tra xử lý sau.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Võ Nguyên Yến M1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì khác.

Vật chứng thu giữ:

  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax là tài sản bị chiếm đoạt. Kết luận định giá tài sản số 41/KL-HĐĐGTS ngày 26/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Tân Bình kết luận: điện thoại trên trị giá 15.000.000 đồng. Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại chị Võ Nguyên Yến M1.
  • - 01 nón bảo hiểm và 01 bộ trang phục thu giữ của Trần Quang S.
  • - 01 điện thoại di động hiệu Oppo F9 thu giữ của Ngô Chí N.
  • - 01 xe máy hiệu Yamaha Exciter biển số 59G1-508.84 thu giữ của Trần Quang S. Qua xác minh người đăng ký sở hữu là anh Nguyễn Mạnh T1, địa chỉ số 4, khu phố 1, phường Hiệp Thành, Quận 12. Kết quả xác minh không có ai tên Nguyễn Mạnh T1 đăng ký thường trú, tạm trú tại địa phương. Kết quả giám định, biển số xe là thật, xe có số khung, số máy không đổi. S khai mua lại xe của một người bạn ngoài xã hội ở quận Tân Phú (Không rõ lai lịch), chưa làm thủ tục mua bán xe. Cơ quan điều tra đã đăng báo tìm chủ sở hữu xe nhưng chưa có kết quả.
  • - 01 USB lưu trữ dữ liệu hình ảnh ghi nhận diễn biến vụ án (Lưu cùng hồ sơ vụ án).

Tại bản cáo trạng số 112/CT-VKS-TB ngày 31 tháng 05 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đã truy tố các bị cáo Vũ Minh H, Ngô Chí N, Nguyễn Đình T và Trần Quang S về tội “Cướp giật tài sản” theo các điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Trong phần luận tội đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình nêu tóm tắt nội dung vụ án, các nguyên nhân điều kiện phát sinh tội phạm, tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, nêu các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Vũ Minh H, Ngô Chí N, Nguyễn Đình T và Trần Quang S về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d,i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Vũ Minh H từ 05 năm – 05 năm 06 tháng tù; các bị cáo Ngô Chí N, Trần Quang S từ 04 năm 06 tháng – 05 năm tù, bị cáo Nguyễn Đình T từ 04 năm– 04 năm 06 tháng tù.

Về vật chứng, trách nhiệm dân sự thì đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

- Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, không có tranh luận gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố các bị cáo Vũ Minh H, Ngô Chí N, Nguyễn Đình T và Trần Quang S, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Tân Bình, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình được phân công điều tra giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; bị cáo, bị hại, không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

[2] Xét thấy lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, bản kết luận điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của người làm chứng cùng tang vật, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận các bị cáo Vũ Minh H, Ngô Chí N, Nguyễn Đình T và Trần Quang S đã có hành vi rủ nhau điều khiển xe gắn máy rồi công khai chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax trị giá 15.000.000 đồng của chị Võ Nguyên Yến M1, đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản”, thuộc trường hợp “Dùng thủ đoạn nguy hiểm”; Các bị cáo Vũ Minh H, Ngô Chí N, Trần Quang S và Nguyễn Đình T đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục phạm tội rất nghiêm trọng là “Tái phạm nguy hiểm”, là tình tiết định khung hình phạt được quy định tại điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất liều lĩnh nguy hiểm, ngang nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác ngay trên đường phố nơi đông người và dùng thủ đoạn nguy hiểm là xe gắn máy phân khối lớn, là nguồn nguy hiểm cao độ làm phương tiện phạm tội, tiềm ẩn nguy cơ dễ gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe của bị hại và những người đang lưu thông trên đường. Xét về tính chất vụ án là nghiêm trọng, các bị cáo đã thành niên, đủ khả năng nhận thức hành vi cướp giật tài sản của người khác bị pháp luật nghiêm cấm và trừng trị nhưng chỉ vì muốn có tiền tiêu xài nên bị cáo đã cố tình thực hiện tội phạm, chứng tỏ các bị cáo có thái độ coi thường pháp luật. Trong vụ án này, các bị cáo phạm tội với hình thức đồng phạm giản đơn, không có sự phân công, cấu kết chặt chẽ, không có tính tổ chức, nhưng bị cáo H là người khởi xướng rủ rê các bị cáo còn lại, bị cáo N và S là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội nên hình phạt dành cho bị cáo H, N và S cần nghiêm khắc hơn bị cáo T. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn, tiếp tục cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm mục đích giáo dục, cải tạo các bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ: Hội đồng xét xử xem xét tình tiết: các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi và trả lại cho bị hại, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo theo quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Võ Nguyên Yến M1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về vật chứng vụ án:

  • - 01 nón bảo hiểm và 01 bộ trang phục thu giữ của bị cáo S, xét thấy đây là những vật không có giá trị và bị cáo không có yêu cầu nhận lại nên tịch thu và tiêu hủy.
  • - 01 điện thoại di động hiệu Oppo F9 thu giữ của bị cáo N, xét thấy bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
  • - 01 xe máy hiệu Yamaha Exciter biển số 59G1-508.84 thu giữ của bị cáo S. Xét thấy xe gắn máy trên có nguồn gốc chưa rõ ràng, cần giao Chi cục thi hành án dân sự đăng báo tìm chủ sở hữu trong một thời gian nhất định, quá thời hạn trên không có ai đến nhận thì lập thủ tục nộp ngân sách Nhà nước.
  • - 01 USB lưu trữ dữ liệu hình ảnh ghi nhận diễn biến vụ án (Lưu cùng hồ sơ vụ án) là chứng cứ của vụ án và lưu giữ được trong hồ sơ vụ án nên cần lưu vào hồ sơ vụ án.

[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm h, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự;

Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

[1] Tuyên bố các bị cáo Vũ Minh H, Ngô Chí N, Nguyễn Đình T và Trần Quang S phạm tội “Cướp giật tài sản”.

  • - Xử phạt: Vũ Minh H 05 (Năm) năm tù
  • Thời hạn tù tính từ ngày 22 tháng 12 năm 2023.
  • - Xử phạt: Ngô Chí N 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng tù
  • Thời hạn tù tính từ ngày 25 tháng 01 năm 2024.
  • - Xử phạt: Trần Quang S 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng tù
  • Thời hạn tù tính từ ngày 30 tháng 9 năm 2023.
  • - Xử phạt: Nguyễn Đình T 04 (Bốn) năm tù
  • Thời hạn tù tính từ ngày 22 tháng 12 năm 2023.

[2] Về xử lý vật chứng:

  • - Tịch thu và tiêu hủy: 01 nón bảo hiểm, 01 áo sơ mi dài tay màu đen và 01 quần jean ống dài màu đen.
  • - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Oppo F9.
  • - Giao Chi cục thi hành án dân sự đăng báo tìm chủ sở hữu 01 xe máy hiệu Yamaha Exciter biển số 59G1-508.84, số khung: RLCE55P10DY230864, số máy: 55P1-230886 trong thời gian 01 năm, quá thời hạn trên không có ai đến nhận thì lập thủ tục nộp ngân sách Nhà nước.
  • - Lưu hồ sơ vụ án 01 USB lưu trữ dữ liệu hình ảnh ghi nhận diễn biến vụ án.
  • (Tình trạng vật chứng theo như Biên bản bàn giao vật chứng số 144/BB/2024 ngày 16/7/2024 giữa Công an quận Tân Bình và Chi cục thi hành án dân sự quận Tân Bình).

[4] Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[5] Trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, các bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân Tp. Hồ Chí Minh. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung năm 2015) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sư có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung năm 2015); Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung năm 2015).

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Công an quận Tân Bình;
  • - VKSND quận Tân Bình;
  • - Chi cục THADS quận Tân Bình;
  • - TAND, VKSND Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Phòng HSNVCS CA Tp. HCM;
  • - Sở Tư pháp Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký và đóng dấu)

Nguyễn Quang Thiện

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 113/2024/HS-ST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH - TP. HỒ CHÍ MINH về hình sự về tội cướp giật tài sản

  • Số bản án: 113/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH - TP. HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố các bị cáo Vũ Minh H, Ngô Chí N, Nguyễn Đình T và Trần Quang S phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger