TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 113/2024/DS-ST
Ngày: 16-5-2024
V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10
-
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thanh Nhàn.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Vi Tường Thụy;
- Bà Nguyễn Thị Tuyết Hồng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Phương - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Hằng – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 22/2024/TLST-DS ngày 12 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2024/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 03 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 39/2024/QĐST- DS ngày 17 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q (có mặt)
Địa chỉ: Tầng A (tầng trệt), và tầng 2 Tòa nhà S, số A P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông K'Jac L
Địa chỉ: tầng F tòa nhà P U, Phường B, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Theo Giấy ủy quyền số 070778.24 ngày 08/4/2024 của Ngân hàng TMCP Q)
Bị đơn:
- Ông Phạm Văn B, sinh năm 1966 (vắng mặt)
Địa chỉ: A H, Phường A, Quận A, Tp .
- Bà Phạm Thúy L1, sinh năm 1965 (vắng mặt)
Địa chỉ: C Chung cư T, Phường G, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng TMCP Q cũng như tại bản tự khai của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày như sau:
Ngân hàng TMCP Q có ký với khách hàng Phạm Văn B và Phạm Thùy Liên Hợp đồng tín dụng số 0081/HDDTD1-VIB619/13 ngày 06/06/2013 với nội dung: ông B và bà L1 vay số tiền 400.000.000 đồng; Mục đích vay vốn: thanh toán mua 01 xe ô tô nhãn hiệu FORD EVEREST: Thời hạn vay: 36 tháng, từ ngày 06/06/2013 đến ngày 06/06/2016; Lãi suất tại thời điểm giải ngân: áp dụng lãi suất ưu đãi 7.77%/năm trong 03 tháng đầu tiên điều chỉnh 03 tháng/lần. Lãi suất từ tháng thứ 4 trở đi được điều chỉnh bằng lãi suất cho vay của sản phẩm Ô tô do ngân hàng công bố tại thời điểm điều chỉnh, phù hợp với các quy định của pháp luật Ngân hàng N và chính sách của ngân hàng TMCP Q tại từng thời kỳ. Thực hiện hợp đồng tín dụng ngân hàng đã giải ngân cho bị đơn theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số 0081/KUNN1-VIB619/13 ngày 06/06/2013. Quá trình thực hiện hợp đồng bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi phát sinh kể từ ngày 01/9/2021. Tạm tính đến ngày 16/5/2024, bị đơn đã thanh toán được số tiền là 313.476.485 đồng (gốc: 238.044.224 đồng, lãi: 75.432.261 đồng). Nay tại Tòa đề nghị bị đơn thanh toán số tiền: 456,089,659 đồng, trong đó gồm có: Nợ gốc là: 161,955,776 đồng, nợ lãi trong hạn là: 1,188,890 là: 292,944,993 đồng. Ngân hàng không yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm.
Bị đơn ông Phạm Văn B và bà Phạm Thúy L1 vắng mặt trong suốt quá trình tòa thụ lý và giải quyết vụ án nên không có lời khai.
Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng do bị đơn vắng mặt, nên Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, Viện kiểm sát kiến nghị quá trình giải quyết vụ án Tòa án chậm đưa vụ án ra xét xử.
- Về việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn tham gia tố tụng có bản khai chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, bị đơn không đến Tòa để tham gia hòa giải và xét xử vụ án cũng như không có đơn xin vắng mặt.
- Về nội dung giải quyết vụ án: Căn cứ hợp đồng tín dụng là đúng quy định pháp luật nên có cơ sở xem xét. Căn cứ khế ước nhận nợ của bị đơn có cơ sở xác định bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo cam kết nên nguyên đơn khởi kiện là có cơ sở chấp nhận. Do nguyên đơn không yêu cầu giải quyết tài sản bảo đảm nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
3
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật: Căn cứ Hợp đồng tín dụng và lời khai nhận của bị đơn có cơ sở xác định quan hệ tranh chấp của vụ án là “tranh chấp dân sự về hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: do bị đơn có địa chỉ tại Quận A, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
[3] Về tư cách tham gia tố tụng:
[3.1] Xét Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty cổ phần do Phòng Đăng ký kinh doanh - Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố H cấp cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q ngày 14/02/1996; Giấy ủy quyền số 070778.24 ngày 08/4/2024 của Ngân hàng TMCP Q là hợp lệ nên ông K'Jac L có đủ tư cách đại diện nguyên đơn tham gia tố tụng tại Tòa án.
[3.2] Xét bị đơn ông Phạm Văn B và bà Phạm Thúy L1 đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4] Về hình thức và nội dung Hợp đồng tín dụng số 0081/HDDTD1-VIB619/13 ngày 06/06/2013 là hợp lệ nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên đương sự.
[5] Về nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[5.1] Về yêu cầu bị đơn thanh tóan số tiền nợ gốc còn thiếu, Hội đồng xét xử nhận thấy và phân tích như sau: Căn cứ Hợp đồng tín dụng số 0081/HDDTD1-VIB619/13 ngày 06/06/2013 ký giữa ngân hàng với bị đơn cũng như khế ước nhận nợ có cơ sở xác định bị đơn đã nhận đủ số tiền vay là 400.000.000 đồng. Ngân hàng xác định bị đơn đã thanh toán được 238.044.224 tiền gốc. Do bị đơn không đến Tòa trình bày ý kiến và xuất trình chứng cứ nào khác nên căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án xác định bị đơn còn nợ ngân hàng số tiền gốc 161.955.776 đồng. Nay ngân hàng khởi kiện yêu cầu trả số nợ gốc như trên là có cơ sở chấp nhận.
[5.2] Đối với yêu cầu bị đơn trả khỏan lãi phát sinh, Hội đồng xét xử nhận thấy và phân tích như sau: theo quy định tại Điều 4 Hợp đồng tín dụng hai bên thống nhất lãi suất cho vay do Ngân hàng công bố có hiệu lực tại thời điểm giải ngân. Lãi suất quá hạn là 150% mức lãi suất cho vay. Theo quy định tại khoản 2 Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng quy định: “Trong trường hợp khách hàng không trả được nợ đến hạn thì tổ chức tín dụng có quyền xử lý nợ theo hợp đồng tín dụng”. Xét thấy đến kỳ hạn trả nợ phía bị đơn không trả được nợ nên nguyên đơn yêu cầu chuyển toàn bộ dư nợ hiện có của hợp đồng tín dụng sang nợ quá hạn là phù hợp với quy định về chuyển nợ quá hạn. Theo quy định tại khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Căn cứ Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Thống đốc Ngân hàng N hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng tiền đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận, nên Ngân hàng là tổ chức tín dụng thực hiện cho vay bằng đồng Việt Nam theo lãi suất thỏa thuận đối với khách hàng là không trái pháp luật. Từ những phân tích trên, có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn có nghĩa vụ thanh toán tiền lãi đến ngày 16/5/2024 là 294.133.883 đồng.
[5.3] Đối với hợp đồng thế chấp xe ô tô số 0081/HĐTC-VIB619/13 ngày 06/6/2013 do ngân hàng không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
[6] Án phí dân sự sơ thẩm, do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận bị đơn phải chịu án phí theo quy định tại Điều 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 91; Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
[1] Ông Phạm Văn B và bà Phạm Thúy L1 có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q số tiền 456.089.659 (bốn trăm năm mươi sáu triệu không trăm tám mươi chín ngàn sáu trăm năm mươi chín) đồng trong đó tiền gốc là 161.955.776 (một trăm sáu mươi mốt triệu chín trăm năm mươi lăm ngàn bảy trăm bảy mươi sáu) đồng, tiền lãi 294.133.883 (hai trăm chín mươi bốn triệu một trăm ba mươi ba ngàn tám trăm tám mươi ba) đồng theo Hợp đồng tín dụng số 0081/HDDTD1-VIB619/13 ngày 06/06/2013.
Tiền lãi sẽ được tiếp tục tính từ ngày 17/5/2024 cho đến khi Ông Phạm Văn B và bà Phạm Thúy L thanh toán xong nợ, theo mức lãi suất quy định trong Hợp đồng tín dụng số 0081/HDDTD1-VIB619/13 ngày 06/06/2013.
Thi hành ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, tại Cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.
5
[3] Án phí dân sự sơ thẩm: 22.243.586 (hai mươi hai triệu hai trăm bốn mươi ba ngàn năm trăm tám mươi sáu) đồng, Ông Phạm Văn B và bà Phạm Thúy L1 chịu.
Trả lại cho Ngân hàng TMCP Q số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 10.235.126 (mười triệu hai trăm ba mươi lăm ngàn một trăm hai mươi sáu) đồng, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0019343 ngày 09/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, tính từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thanh Nhàn |
Bản án số 113/2024/DS-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 113/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu
