Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÒN ĐẤT

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 113/2024/HNGĐ-ST.

Ngày: 15/7/2024

Về việc: “Xin ly hôn và nuôi con chung”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT - TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Đặng Thanh Sang

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hà Thị Kim Thu

Bà Nguyễn Thị Kim Hoa

Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Mộng Trinh - Thư ký TAND huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn đất tham phiên tòa: Không.

Ngày 15 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 277/2024/TLST- HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2024 về việc: “Xin ly hôn và nuôi con chung”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2024/QĐXXST - HNGĐ, ngày 04 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1983 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: ấp K, xã B, huyện H, tỉnh Kiên Giang.

Bị đơn: Chị Trần Thị S, sinh năm 1982 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: ấp V, xã B, huyện H, tỉnh Kiên Giang.

1

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Nguyễn Văn L trình bày như sau:

- Về hôn nhân: Anh Nguyễn Văn L và chị Trần Thị S tự tìm hiểu yêu thương nhau, sau đó được hai bên gia đình đồng ý tổ chức đám cưới vào trước năm 2006, anh chị có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã B, huyện H, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 19/11/2007. Thời gian đầu, vợ chồng sống rất hạnh phúc, tuy nhiên thời gian sau thì giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi nhau và đã ly thân nhau từ năm 2018 cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được và không thể hàn gắn được. Do đó, anh Nguyễn Văn L yêu cầu được ly hôn với chị Trần Thị S.

- Về con chung: Anh Nguyễn Văn L và chị Trần Thị S có 02 người con chung tên là Nguyễn Văn D, sinh ngày 27/12/2006 hiện đang ở cùng với chị S và Nguyễn Thị Thùy D1, sinh ngày 28/5/2011 hiện đang ở cùng với anh L. Sau khi ly hôn anh Nguyễn Văn L yêu cầu được quyền nuôi con chung tên Nguyễn Thị Thùy D1. Riêng người con chung tên Nguyễn Văn D gần trưởng thành nếu muốn ở với cha hay mẹ thì người đó có trách nhiệm nuôi dưỡng. Anh L không yêu cầu giải quyết cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Anh Nguyễn Văn L và chị Trần Thị S không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Anh Nguyễn Văn L và chị Trần Thị S không có nợ ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Quá trình giải quyết vụ án: Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho bị đơn là chị Trần Thị S. Tuy nhiên, chị S không đến Tòa án để làm việc và không thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, Tòa án không ghi nhận được lời khai của chị Trần Thị S trong hồ sơ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

2

Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo đơn khởi kiện nguyên đơn anh Nguyễn Văn L yêu cầu được ly hôn với bị đơn chị Trần Thị S. Chị Trần Thị S có nơi cư trú trên địa bàn huyện H, tỉnh Kiên Giang. Xét thấy đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn anh Nguyễn Văn L và bị đơn chị Trần Thị S đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử trong trường hợp vắng mặt nguyên đơn anh Nguyễn Văn L và bị đơn chị Trần Thị S tại phiên tòa.

[3] Về nội dung vụ án:

[3.1] Về hôn nhân: Qua các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử có cơ sở xác định anh Nguyễn Văn L và bị đơn chị Trần Thị S xác lập quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, anh chị có tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương, có thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn và được được Ủy ban nhân dân xã B, huyện H, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 19/11/2007. Như vậy, hôn nhân giữa anh Nguyễn Văn L và chị Trần Thị S là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Theo đơn khởi kiện anh Nguyễn Văn L yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Trần Thị S do tình cảm vợ chồng không còn và không thể hàn gắn được. Quá trình giải quyết vụ án anh L trình bày cuộc sống vợ chồng anh chị mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cãi và đã ly thân nhau từ năm 2018 cho đến nay. Hiện tại, anh L và chị S không liên lạc, không còn quan tâm, chăm sóc nhau nữa, cũng không thực hiện quyền và nghĩa vụ chung của vợ chồng.

Quá trình giải quyết vụ án tòa án tiến hành giải thích pháp luật và động viên anh Nguyễn Văn L đoàn tụ để nuôi dạy con chung đến tuổi trưởng thành nhưng anh L vẫn kiên quyết muốn ly hôn với chị S. Đồng thời Tòa án cũng tống đạt các văn bản tố tụng cho chị S hợp lệ nhưng chị S vẫn vắng mặt không đến Tòa án để hòa giải đoàn tụ với anh L. Từ những chứng cứ nêu trên có căn cứ để chứng minh được mối quan hệ

3

hôn nhân giữa anh L và chị S đã mâu thuẫn đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn và hôn nhân không đạt được mục đích. Nên việc anh L xin ly hôn với chị S Hội đồng xét thấy có cơ sở để chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3.2] Về con chung: Anh Nguyễn Văn L xác định trong quá trình chung sống với chị Trần Thị S thì anh chị có với nhau 02 người con chung tên là Nguyễn Văn D, sinh ngày 27/12/2006 hiện đang ở cùng với chị S và Nguyễn Thị Thùy D1, sinh ngày 28/5/2011 hiện đang ở cùng với anh L. Trong quá trình giải quyết vụ án anh Nguyễn Văn L yêu cầu được quyền nuôi con chung tên Nguyễn Thị Thùy D1 và anh không yêu cầu chị S phải cấp dưỡng nuôi con chung. Riêng người con chung tên Nguyễn Văn D đã gần trưởng thành nên con chung muốn ở với cha hoặc mẹ thì người đó có trách nhiệm nuôi dưỡng. Xét yêu cầu nuôi con của anh L Hội đồng xét xử nhận thấy: Hiện anh L là người đang trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị Thùy D1. Đồng thời, cháu D1 cũng có ý kiến được ở với anh L. Hơn nữa, quá trình chung sống với anh L thì cháu D1 được anh L chăm sóc, nuôi dưỡng và phát triển bình thường. Đối với cháu Nguyễn Văn D từ khi ly thân thì cháu ở với chị S và chị S nuôi dưỡng tốt. Do đó, để đảm bảo ổn định cuộc sống của các cháu, giúp các cháu phát triển tốt về mặt thể chất và tinh thần. Hội đồng xét xử giao cháu D1 cho anh L và giao cháu D cho chị S tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3.3] Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Anh L và chị S không yêu cầu Toà án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

[3.4] Về tài sản chung và nợ chung: Anh L xác nhận anh và chị S không có tài sản chung, không có nợ ai và không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên Hội đồng xét xử miễn xét.

[4] Về án phí hôn nhân và gia đình: Anh Nguyễn Văn L phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

4

- Áp dụng các Điều 56; 58; 81; 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

* Tuyên Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn L về việc ly hôn với chị Trần Thị S.

1/. Về hôn nhân: Anh Nguyễn Văn L được ly hôn với chị Trần Thị S.

2/. Về con chung: Giao người con chung tên Nguyễn Thị Thùy D1, sinh ngày 28/5/2011 cho anh Nguyễn Văn L tiếp tục nuôi dưỡng và người con chung tên Nguyễn Văn D, sinh ngày 27/12/2006 cho chị Trần Thị S tiếp tục nuôi dưỡng.

3/. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Anh L và chị S không yêu cầu Toà án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Anh Nguyễn Văn L và chị Trần Thị S có quyền được thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản theo quy định của pháp luật.

4/. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên miễn xét.

5/. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Anh Nguyễn Văn L phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh L đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001089 ngày 21/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Theo đó anh L không phải nộp thêm.

6/. Quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - VKS huyện Hòn Đất;
  • - Chi cục THADS huyện Hòn Đất;
  • - Đương sự;
  • - UBND xã Bình Sơn;
  • - Lưu;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Thanh Sang

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 113/2024/HNGĐ-ST. ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT - TỈNH KIÊN GIANG về xin ly hôn và nuôi con chung

  • Số bản án: 113/2024/HNGĐ-ST.
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn và nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT - TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn Giải quyết nuôi con chung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger