Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 113/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 15/5/2024

V/v Tranh chấp ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Thanh Tiền

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Thị Tuyết
  2. Bà Trần Nguyệt Mai

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thụy Thùy Trâm - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 5.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 5 năm 2024 tại Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 71/2023/HNST ngày 07 tháng 4 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 25/2024/QĐST-DSST ngày 19 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Vũ N, sinh năm 1983; Nơi cư trú: Số A G, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Bị đơn: Bà Chea Lâm Soc C, sinh năm 1984; Nơi thường trú: Số G K, tổ dân phố D, khu phố D, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú hiện nay: Số D P, Phường G, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 21 tháng 3 năm 2023, tờ tự khai ngày 23 tháng 5 năm 2023 và quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Vũ N trình bày:

Ông và bà Chea Lâm Soc C (viết tắt là bà C) tự nguyện kết hôn vào năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 130 ngày 23 tháng 5 năm 2014). Trong quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm hay tranh cãi, không tìm được tiếng nói chung. Ông và bà C đã nhiều lần cùng ngồi lại nói chuyện để tìm cách giải quyết, hàn gắn tình cảm, nhưng không có kết quả. Do đó, Ông và bà C đã ly thân khoảng 03 (ba) năm. Nay ông xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể hàn gắn; vợ, chồng không còn tình cảm dành cho nhau, hôn nhân không còn hạnh phúc nên ông xin ly hôn với bà C.

Về con chung: Ông Nguyễn Vũ N và bà Chea Lâm Soc C có 03 người con chung tên Nguyễn Vũ Bảo P (nữ), sinh ngày 30 tháng 4 năm 2014; Nguyễn Vũ Bảo A (nam), sinh ngày 25 tháng 7 năm 2015; Nguyễn Vũ Bảo T (nữ), sinh ngày 15 tháng 3 năm 2018. Ông Nguyễn Vũ N có nguyện vọng giao các người con chung nêu trên cho bà Chea Lâm Soc C trực tiếp nuôi dưỡng. Hàng tháng, ông sẽ cấp dưỡng nuôi mỗi người con chung nêu trên với mức cấp dưỡng là 5.000.000 đồng/trẻ (ba trẻ là 15.000.000 đồng/tháng) cho đến khi các người con chung nêu trên trưởng thành (đủ 18 tuổi).

Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung: Ông và bà C không có tài sản chung, không có nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung nên không yêu cầu Tòa giải quyết.

Bị đơn là bà Chea Lâm Soc C được Toà án triệu tập hợp lệ trong quá trình giải quyết vụ án, nhưng vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện cũng như các tờ tự khai đã trình bày.

Bị đơn được Toà án tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên không có ý kiến trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 phát biểu:

  • Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy trình tố tụng giải quyết vụ án. Những người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định pháp luật.
  • Về nội dung vụ án: Xét thấy mâu thuẫn giữa ông N và bà C đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: ông N được ly hôn với bà C.
    • + Về con chung: Giao 03 (ba) người con chung tên Nguyễn Vũ Bảo P (nữ), sinh ngày 30 tháng 4 năm 2014; Nguyễn Vũ Bảo A (nam), sinh ngày 25 tháng 7 năm 2015; Nguyễn Vũ Bảo T (nữ), sinh ngày 15 tháng 3 năm 2018 cho bà Nguyễn Lâm Soc C1 trực tiếp nuôi dưỡng. Hàng tháng, ông N sẽ cấp dưỡng nuôi mỗi người con chung nêu trên với mức cấp dưỡng là 5.000.000 đống/trẻ (ba trẻ là 15.000.000 đồng/tháng) cho đến khi các người con chung nêu trên trưởng thành (đủ 18 tuổi). Việc thực hiện cấp dưỡng bắt đầu khi bản án có hiệu lực pháp luật.
    • + Tài sản chung, nợ chung không có nên không xét. Án phí hôn nhân sơ thẩm do nguyên đơn chịu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và xét yêu cầu của nguyên đơn được trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy đây là vụ án Hôn nhân gia đình về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào kết quả xác minh của Công an P1, Quận E thì bà C1 có đăng ký thường trú tại địa chỉ số G K, Phường A, Quận E và thực tế cư trú tại địa chỉ số D P, Phường G, Quận E. Như vậy, tại thời điểm Toà án thụ lý, bị đơn cư ngụ tại Quận E nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 5 theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vụ án thuộc trường hợp Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa theo khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về yêu cầu đương sự:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

Căn cứ Trích lục kết hôn số 19/2023/TLKH-BS ngày 09 tháng 01 năm 2023 của Ủy ban nhân dân phường T, quận T thì ông Nguyễn Vũ N và bà Chea Lâm Soc C có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 130 ngày 23 tháng 5 năm 2014 tại Ủy ban nhân dân phường T, quận T. Hội đồng xét xử nhận thấy quan hệ hôn nhân giữa ông Nguyễn Vũ N và bà Chea Lâm Soc C là tự nguyện và hợp pháp.

Trong quá trình giải quyết vụ án ông N thừa nhận quá trình chung sống, ông bà phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng về quan điểm sống, không hòa hợp với nhau, dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Mặc dù, ông bà đã nhiều lần cùng nhau giải quyết, nhưng không có kết quả, không thể hàn gắn, nên ông bà đã ly thân khoảng 03 năm. Ông xác định không còn tình cảm với bà C, mục đích hôn nhân không đạt được, nên ông yêu cầu được ly hôn với bà C.

Bà C được Toà án triệu tập hợp lệ để làm việc, hoà giải, xét xử, nhưng đều vắng mặt không có lý do, không có lời trình bày, chứng tỏ bà C không muốn hoà giải để vợ chồng hàn gắn, đoàn tụ.

Tòa án đã yêu cầu Ủy ban nhân dân Phường G, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh là nơi bà Chea Lâm Soc C đang thực tế cư trú để cung cấp thông tin về quan hệ hôn nhân giữa ông Nguyễn Vũ N và bà Chea Lâm Soc C, về mâu thuẫn trong hôn nhân, về con chung và các vấn đề có liên quan đến quan hệ hôn nhân nêu trên nhưng kết quả Ủy ban nhân dân Phường G, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh đã mời bà C làm việc nhưng bà C không hợp tác nên không trao đổi được với bà C, do đó không cung cấp được thông tin gì thêm.

Từ đó có thể thấy tình trạng hôn nhân giữa ông N và bà C đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ để chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông N.

[2.2] Về con chung:

Căn cứ vào Giấy khai sinh số 095/2014 do Ủy ban nhân dân Phường A1, Quận E cấp ngày 30 tháng 5 năm 2014 của trẻ Nguyễn Vũ Bảo P (nữ), sinh ngày 30 tháng 4 năm 2014; Giấy khai sinh số 171/2015 do Ủy ban nhân dân Phường A1, Quận E cấp ngày 11 tháng 11 năm 2015 của trẻ Nguyễn Vũ Bảo A (N1), sinh ngày 25 tháng 7 năm 2015; Giấy khai sinh số 63 do Ủy ban nhân dân Phường A1, Quận E cấp ngày 23 tháng 5 năm 2018 của trẻ Nguyễn Vũ Bảo T (nữ), sinh ngày 15 tháng 3 năm 2018 . Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định trẻ Bảo P, B và Bảo T là con chung của ông Nguyễn Vũ N và bà Chea Lâm Soc Chu.

Ông Nguyễn Vũ N có nguyện vọng giao các người con chung nêu trên cho bà Chea Lâm Soc C trực tiếp nuôi dưỡng. Hàng tháng, ông sẽ cấp dưỡng nuôi mỗi người con chung nêu trên với mức cấp dưỡng là 5.000.000 đồng/trẻ (ba trẻ là 15.000.000 đồng/tháng) cho đến khi các người con chung nêu trên trưởng thành (đủ 18 tuổi).

Xét, trẻ Nguyễn Vũ Bảo T chưa đủ tuổi để Toà án lấy nguyện vọng của trẻ, tuy nhiên trẻ T là bé gái, hiện nay đang sống chung với mẹ và còn nhỏ nên việc ông N giao trẻ T cho bà C trực triếp nuôi dưỡng là phù hợp. Đối với trẻ Bảo P và Bảo A có nguyện vọng được ở với mẹ (tờ tự khai ngày 20 tháng 11 năm 2023), nên việc ông N giao 02 người con chung này cho bà C trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của trẻ và thực tế bà C đang nuôi dưỡng.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập hợp lệ bà C, nhưng bà C vắng mặt không rõ lý do, nên không có ý kiến trình bày về vấn đề này. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào trình bày của ông N và nguyện vọng của các người con chung chấp nhận yêu cầu của ông N: giao 03 người con chung tên Nguyễn Vũ Bảo P (nữ), sinh ngày 30 tháng 4 năm 2014; Nguyễn Vũ Bảo A (nam), sinh ngày 25 tháng 7 năm 2015; Nguyễn Vũ Bảo T (nữ), sinh ngày 15 tháng 3 năm 2018 cho bà Chea Lâm Soc C trực tiếp nuôi dưỡng. Hàng tháng, ông N sẽ cấp dưỡng nuôi mỗi người con chung nêu trên với mức cấp dưỡng là 5.000.000 đồng/trẻ (ba trẻ là 15.000.000 đồng/tháng) cho đến khi các người con chung nêu trên trưởng thành (đủ 18 tuổi). Việc thực hiện cấp dưỡng được thực hiện vào ngày 15 dương lịch hàng tháng ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Việc giao nhận tiền cấp dưỡng nuôi con do hai bên tự thực hiện hoặc tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con nếu lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trong trường hợp có lý do chính đáng, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được luật định, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi con.

[2.3] Về tài sản chung: Ông Nguyễn Vũ N tự khai không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, bà C vắng mặt không rõ lý do nên không có ý kiến trình bày về vấn đề này nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.4] Về nợ chung và thực hiện nghĩa vụ dân sự chung: Ông Nguyễn Vũ N tự khai không có nợ chung và cũng không thực hiện nghĩa vụ dân sự của bất kỳ cá nhân hay cơ quan, tổ chức nào nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà C vắng mặt không rõ lý do nên không có ý kiến trình bày về vấn đề này nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí: Ông Nguyễn Vũ N chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 266; Điều 271 và Khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào Luật phí và lệ phí số 87/2015/QH13 ngày 25/11/2015;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Vũ N
    • Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Vũ N được ly hôn với bà Chea Lâm Soc Chu.
    • Về con chung: Giao 03 (ba) người con chung tên Nguyễn Vũ Bảo P (nữ), sinh ngày 30 tháng 4 năm 2014; Nguyễn Vũ Bảo A (nam), sinh ngày 25 tháng 7 năm 2015; Nguyễn Vũ Bảo T (nữ), sinh ngày 15 tháng 3 năm 2018 cho bà Chea Lâm Soc C trực tiếp nuôi dưỡng. Hàng tháng, ông Nguyễn Vũ N sẽ cấp dưỡng nuôi mỗi người con chung nêu trên với mức cấp dưỡng là 5.000.000 đồng/trẻ (ba trẻ là 15.000.000 đồng/tháng) cho đến khi các người con chung nêu trên trưởng thành (đủ 18 tuổi). Việc thực hiện cấp dưỡng được thực hiện vào ngày 15 dương lịch hàng tháng ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
    • Việc giao nhận tiền cấp dưỡng nuôi con do hai bên tự thực hiện hoặc tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
    • Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con nếu lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
    • Trong trường hợp có lý do chính đáng, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được luật định, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi con.
    • Về tài sản chung: Ông Nguyễn Vũ N tự khai không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, bà Chea Lâm Soc C vắng mặt không rõ lý do nên không có ý kiến trình bày về vấn đề này nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
    • Về nợ chung và thực hiện nghĩa vụ dân sự chung: Ông Nguyễn Vũ N tự khai không có nợ chung và cũng không thực hiện nghĩa vụ dân sự của bất kỳ cá nhân hay cơ quan, tổ chức nào nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà Chea Lâm Soc C vắng mặt không rõ lý do nên không có ý kiến trình bày về vấn đề này nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
    • Về án phí: Ông Nguyễn Vũ N chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông N đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số AA/2021/0010552 ngày 07 tháng 4 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài ra, ông Nguyễn Vũ N còn phải chịu án phí đối với người có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) và nộp tại Chi cục thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Về quyền kháng cáo: Ông Nguyễn Vũ N và bà Chea Lâm Soc C vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
    • Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND Quận 5;
  • - TAND Tp HCM;
  • - THADS Quận 5;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lâm Thanh Tiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 113/2024/HNGĐ-ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 113/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn - Mâu thuẫn gia đình
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger