TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM KỲ TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 113/2024/HS-ST
Ngày 14/8/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM KỲ - TỈNH QUẢNG NAM
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Thiện
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Thị Đông
Ông Nguyễn Văn Thông
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Hiệp - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Diệp - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam tiến hành mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 115/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 123/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo
H và tên: Hồ Minh T; giới tính: nam; Sinh ngày: 29/8/1994 tại thành phố T, tỉnh Quảng Nam; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 7/12; nơi ĐKHKTT: Khối phố X, phường T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam; Con ông: không rõ; con bà: Phạm Thị D, sinh năm 1956, trú tại khối phố X, phường T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam; bị cáo là con duy nhất trong gia đình, bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án:
- + Ngày 24/5/2022, bị TAND thành phố Tam Kỳ xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/7/2023.
- + Ngày 12/11/2019, bị TAND thành phố Tam Kỳ xử phạt 06 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Tiền sự: không.
Nhân thân:
- + Ngày 11/5/2012, bị TAND huyện Phú Ninh xử phạt 03 tháng tù về tội “Không tố giác tội phạm”.
- + Ngày 06/6/2019, bị Công an phường T, thành phố T xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.750.000 đồng về hành vi xâm hại sức khỏe người khác.
- + Ngày 24/3/2022, bị Công an thành phố T xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 22/5/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T. Bị cáo có mặt.
- Bị hại: Bà Trần Thị T1, sinh năm 1981; địa chỉ: Khối phố X, phường T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam; vắng mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- + Bà Võ Thị P, sinh năm 1941; địa chỉ: K X, phường T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam; vắng mặt.
- + Bà Đặng Thị H1, sinh năm 1988; địa chỉ; Khối phố D, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam; vắng mặt.
- Người làm chứng:
- + Bà Trần Thị M, sinh năm 1978; địa chỉ: K X, phường T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 02/3/2024, Hồ Minh T đi bộ từ nhà của mình sang nhà hàng xóm là bà Võ Thị P (SN: 1941, trú tại: khối phố X, phường T, thành phố T). Thấy người trong nhà đã đi Tẩu lén lút đi đến sân nhà và nhìn thấy có nhiều giàn giáo, giàn tiệp xây dựng của con trai và con dâu bà P là chị Trần Thị T1 (SN: 1981, trú: khối phố X, phường T, thành phố T) đang để tại đây. Trong số đó có 02 (hai) khung giàn tiệp sắt không bị xích khóa nên T đã vác hai khung giàn tiệp sắt này đi về nhà của mình rồi cất giữ ở gian phòng dưới. Đến khoảng 06 giờ 15 phút ngày 03/3/2024, T mang hai khung giàn tiệp sắt ra khỏi nhà, vác lên vai rồi đi xe đạp đến tiệm P1 của chị Đặng Thị H1 (SN: 1988) ở Khối phố D, phường A, thành phố T để bán. Lúc T đến không gặp chủ tiệm nên T để hai khung giàn tiệp sắt ở tại tiệm phế liệu và đi về. Khoảng 07 giờ 00 phút cùng ngày, T đến tiệm phế liệu gặp chủ tiệm nhưng chị H1 không đồng ý mua hai khung giàn tiệp của T. Mặc dù vậy T vẫn nài nỉ xin tiền thì chị H1 đưa cho T 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng). Số tiền trên, T tiêu xài cá nhân hết. (Bút lục: 53-70; 74-76; 79-82; 86-89).
* Tang vật tạm giữ:
- - 02 (hai) khung giàn tiệp bằng kim loại sắt màu đà, mỗi khung có chiều dài là 124cm, chiều cao là 100cm, nặng 7,2kg.
- - 01 (một) chiếc xe đạp kiểu dáng xe đạp nữ màu đen cam, có dán tem;
- - 01 (một) thiết bị USB hiệu Kingston lưu trữ dữ liệu camera ghi hình của tiệm P1. (Bút lục: 71; 83-84).
Tại Kết luận định giá tài sản số 20/KL-HĐĐGTS ngày 28/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS thành phố T kết luận: 02 (hai) khung giàn tiệp sắt bằng kim loại màu đà có giá trị 115.200 đồng (một trăm mười lăm nghìn hai trăm đồng). (Bút lục: 20-21).
Tại Cáo trạng số 116/CT-VKSTK-HS ngày 24/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ truy tố bị cáo Hồ Minh T về tội "Trộm cắp tài sản" quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hồ Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”, áp dụng: điểm b, khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 điều 52; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), đề nghị xử phạt bị cáo 09 đến 12 tháng tù.
Về Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đề nghị:
- - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước đối với 01 (một) chiếc xe đạp kiểu dáng xe đạp nữ màu đen cam, có dán tem ASAMA là tài sản của Hồ Minh T sử dụng để đi tiêu thụ tài sản trộm cắp được.
- - Lưu theo hồ sơ vụ án đối với 01 (một) thiết bị USB hiệu Kingston lưu trữ dữ liệu camera ghi hình của tiệm P1
* Về dân sự: Bị hại bà Trần Thị T1 đã nhận lại được tài sản và không có yêu cầu gì thêm về dân sự.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Bị cáo thống nhất với nội dung cáo trạng, rất ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội; đồng thời mong Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về nội dung:
[2.1] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ truy tố.
[2.2] Đối chiếu lời khai của bị cáo phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có cơ sở xác định:
Hồ Minh T đang có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/7/2023, chưa được xóa án tích nhưng vào khoảng 22 giờ 00 phút ngày 02/3/2024, tại nhà bà Võ Thị P ở khối phố X, phường T, thành phố T, Hồ Minh T tiếp tục lén lút chiếm đoạt 02 (hai) khung giàn tiệp bằng kim loại sắt trị giá 115.200đ (một trăm mười lăm nghìn hai trăm đồng) của chị Trần Thị T1.
Hành vi trên của bị cáo Hồ Minh T đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ truy tố và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2.3] Xét tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra thì thấy: Quyền sở hữu tài sản của cá nhân luôn được pháp luật bảo vệ, bị cáo là người có đủ năng lực nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm phạm luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn tại địa phương, do đó cần áp dụng loại hình phạt, mức hình phạt tương xứng để răn đe, giáo dục đồng thời ngăn ngừa chung cho xã hội.
[2.4] Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo thì thấy:
- - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Hồ Minh T đang có 02 tiền án về các tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội. Phạm tội lần này thuộc trường phạm “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
- - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn. Do đó được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- - Về nhân thân: Ngày 11/5/2012, bị TAND huyện Phú Ninh xử phạt 03 tháng tù về tội “Không tố giác tội phạm”. Ngày 06/6/2019, bị Công an phường T, thành phố T xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.750.000 đồng về hành vi xâm hại sức khỏe người khác. Ngày 24/3/2022, bị Công an thành phố T xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Những tình tiết này Hội đồng xét xử sẻ xem xét khi quyết định hình phạt.
[2.5] Về áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự: Xét tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, xét về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo khi quyết định hình phạt.
[2.6] Về loại hình phạt áp dụng: Hành vi của bị cáo là cố ý, thuộc trường hợp tái phạm, làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn tại địa phương nên Hội đồng xét xử áp dụng loại hình phạt tù có thời hạn để cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[3] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại được tài sản và không có yêu cầu gì thêm về dân sự nên không xem xét, giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: điểm b, khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 47 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hồ Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hồ Minh T 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị tạm giam là ngày 22/5/2024.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung ngân sách Nhà nước đối với 01 (một) chiếc xe đạp kiểu dáng xe đạp nữ màu đen cam, có dán tem ASAMA là tài sản của Hồ Minh T sử dụng để đi tiêu thụ tài sản trộm cắp được.
(Vật chứng đang được tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tam Kỳ theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng lập ngày 25/7/2024).
- Lưu theo hồ sơ vụ án đối với 01 (một) thiết bị USB hiệu Kingston lưu trữ dữ liệu camera ghi hình của tiệm P1.
- Về án phí: Buộc bị cáo cáo Hồ Minh T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (14/8/2024) để Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử theo trình tự phúc thẩm. Người tham gia tố tụng vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Quốc Thiện |
Bản án số 113/2024/HS-ST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM KỲ - TỈNH QUẢNG NAM về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 113/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM KỲ - TỈNH QUẢNG NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Hồ Minh T - Trộm cắp tài sản
