Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KIÊN GIANG

Bản án số: 113/2024/DS-PT

Ngày 14 - 5 - 2024

V/v tranh chấp yêu cầu công nhận

quyền sử dụng đất và quyền sở hữu

nhà ở

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhiên

Các Thẩm phán: Ông Trần Bá Kha

Bà Trần Thị Trâm Anh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Xương- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Văn Đ - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 50/2024/TLPT-DS ngày 25 tháng 3 năm 2024, về Tranh chấp yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 132/2023/DS-ST ngày 17 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2024/QĐPT-DS ngày 11 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Lê Văn Đ1, sinh năm 1965; địa chỉ: Số B đường L, khu phố C, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang (có mặt).

- Bị đơn: Chị Phạm Thị Thùy P, sinh năm 1975; địa chỉ: Số A đường L, khu phố C, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ngân hàng Thương mại cổ phần S (S1).
  2. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Ngọc Nguyên K; Chức vụ: Trưởng Phòng G; địa chỉ phòng giao dịch: Số A Lô L, Trung tâm thương mại B, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang (có đơn xin xét xử vắng mặt).

  3. Cháu Lê Phạm An T, sinh ngày 25/12/2009 (con ruột của anh Lê Văn Đ1 và chị Phạm Thị Thùy P); địa chỉ: Số A đường L, khu phố C, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
  4. Người đại diện hợp pháp (người giám hộ) của cháu Lê Phạm An T: Chị Phạm Thị Thùy P (mẹ ruột của cháu An T1 có mặt).

- Người kháng cáo: Bà Phạm Thị Thùy P - Bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và các biên bản làm việc tại tòa án, nguyên đơn anh Lê Văn Đ1 trình bày và yêu cầu như sau:

Trước tháng 11/2016, anh với chị Phạm Thị Thùy P là vợ chồng sống tại căn nhà số B đường L, khu phố C, thị trấn K, huyện K. Ngày 20/9/2016, anh với chị P tự lập biên bản thỏa thuận phân chia tài sản và có sự xác nhận chứng thực của Ủy ban nhân dân (UBND) thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang. Ngày 29/11/2016, Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương ra Quyết định số 168/2016/QÐST-HNGĐ công nhận sự thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận giữa anh với chị P.

Theo như biên bản thỏa thuận tại UBND thị trấn K và Quyết định của Tòa án thì anh được quyền sở hữu, sử dụng đất ở và nhà ở tại địa chỉ số B L, khu phố C, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (giấy CNQSDĐ) số AB987532 do UBND huyện K cấp ngày 12/9/2007 và giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở (giấy CNQSH nhà ở) số 919023078700781 do UBND huyện K cấp ngày 28/8/2009, tất cả đều đứng tên chị Phạm Thị Thùy P.

Tuy nhiên đến nay, sau nhiều lần yêu cầu nhưng chị P vẫn không giao lại giấy CNQSDĐ và nhà ở nêu trên, để anh làm thủ tục sang tên theo quy định của pháp luật.

Vì vậy, anh khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại số B đường L, khu phố C, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang, buộc chị P phải sang tên qua cho anh theo giấy CNQSDĐ số AB987532 do UBND huyện K cấp ngày 12/9/2007 và giấy CNQSH nhà ở số 919023078700781 do UBND huyện K cấp ngày 28/8/2009 do chị Phạm Thị Thùy P đứng tên, để anh làm thủ tục sang tên giấy CNQSD đất ở và nhà ở nêu trên theo quy định của pháp luật.

* Tại biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải ngày 24/7/2020 và các biên bản làm việc tại Tòa án bị đơn chị Phạm Thị Thùy P trình bày:

Trước khi chị với anh Lê Văn Đ1 ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương thì vào ngày 20/9/2016, chị với anh Đ1 có lập biên bản thỏa thuận và được chứng thực tại UBND thị trấn K, huyện K vào ngày 21/9/2016. Đối với đất ở và nhà ở do chị đứng tên đất tọa lạc tại số B đường L, khu phố C, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang theo giấy CNQSDĐ số AB987532 do UBND huyện K cấp ngày 12/9/2007 và giấy CNQSH nhà ở số 919023078700781 do UBND huyện K cấp ngày 28/8/2009, chị có thỏa thuận cho anh Lê Văn Đ1 được quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở nêu trên nhưng với điều kiện là anh Đ1 không được quyền sang nhượng căn nhà này và phải nuôi dưỡng con tên Lê Phạm An T, sinh năm 2009.

Chị yêu cầu nếu chị đồng ý giao giấy CNQSD đất và sang tên quyền sở hữu nhà ở và đất ở cho anh Đ1 thì anh Đ1 sẽ bán căn nhà và đất này nên chị không đồng ý giao giấy để anh Đ1 sang tên theo yêu cầu của anh Đ1. Mặt khác, anh Đ1 cũng không thực hiện trách nhiệm nuôi con như anh đã cam kết mà anh Đ1 giao con là cháu An T1 cho chị nuôi từ khi ly hôn cho đến nay.

Trước đây chị có thế chấp giấy CNQSDĐ số AB987532 cho Ngân hàng TMCP S phòng giao dịch K. Nay chị đã trả hết nợ cho Ngân hàng và nhận lại các giấy tờ liên quan, chị đang giữ các giấy tờ nhà và đất, không có thế chấp cho tổ chức hay cá nhân nào khác. Hiện tại nhà và đất này do anh Đ1 đang quản lý sử dụng, nếu anh Đ1 tiếp tục ở thì chị không có ý kiến gì, còn nếu anh Đ1 bán hoặc đưa người khác về ở thì chị không đồng ý. Chị cũng là người có quyền quản lý, sử dụng căn nhà này nên chị có quyền đến ở căn nhà này vào bất cứ thời điểm nào.

Nếu anh Đ1 sang tên mà giao lại tài sản cho 03 đứa con chung của chị và anh Đ1 là các cháu Lê Phạm Băng T2, Lê Phạm Băng T3, Lê Phạm An T, thì chị đồng ý giao giấy tờ nhà và đất nói trên để sang tên cho 03 người con.

Tại phiên tòa sơ thẩm, chị P yêu cầu nếu sang tên nhà đất cho anh Đ1 thì chị phải được đứng tên chung, vì anh đổi đứng tên một mình thì anh Đ1 có thể chuyển nhượng tài sản, chị không thể hay biết.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Ngân hàng TMCP S trình bày:

Giấy CNQSDĐ số AB987532 được UBND huyện K cấp ngày 12/9/2007 do chị Phạm Thị Thùy P đứng tên có thế chấp tại Ngân hàng TMCP S theo hợp đồng thế chấp số [...] ngày 05/10/2018.

Ngày 15/5/2023, Ngân hàng TMCP S có công văn xác nhận hiện nay phần đất nêu trên tại đường L, khu phố C, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang không còn thế chấp tại Ngân hàng.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 132/2023/DS-ST ngày 17/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang đã xét xử, quyết định:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Văn Đ1. Công nhận cho anh Lê Văn Đ1 được quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở. Buộc chị Phạm Thị Thùy P phải sang tên chuyển quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở, tọa lạc tại số B, đường L, khu phố C, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB987532 do UBND huyện K cấp ngày 12/9/2007 và giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở số 919023078700781 do UBND huyện K cấp ngày 28/8/2009 cho anh Lê Văn Đ1.

Anh Đ1 được quyền liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền để đăng ký biến động về quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở theo quy định pháp luật.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng và báo quyền kháng cáo cho đương sự theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm.

Ngày 29 tháng 11 năm 2023 bị đơn chị Phạm Thị Thùy P có đơn kháng cáo Bản án sơ thẩm số 132/2023/DS-ST ngày 17/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang. Yêu cầu cấp phúc thẩm xử theo hướng như sau:

Chị P không đồng ý với Quyết định của Bản án sơ thẩm, yêu cầu tài sản nhà và đất để lại cho các con và không được quyền sang bán theo tờ thỏa thuận.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn anh Lê Văn Đ1 và bị đơn chị Phạm Thị Thùy P tự nguyện thỏa thuận với nhau như sau: Bị đơn chị Phạm Thị Thùy P đồng ý công nhận diện tích đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB987532 do Ủy ban nhân huyện K cấp ngày 12/9/2007 và giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở số 919023078700781 do Ủy ban nhân dân huyện K cấp ngày 28/8/2009, tất cả đều đứng tên chị Phạm Thị Thùy P, đất tọa lạc tại địa chỉ số B L, khu phố C, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang cho anh Lê Văn Đ1. Chị đồng ý chuyển tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nói trên cho anh Lê Văn Đ1 đứng tên nhưng với điều kiện phải cho cháu Lê Phạm An T, sinh ngày 25/12/2009 là con chung của anh Đ1, chị P cùng đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với anh Đ1, hiện tại cháu T mới có 15 tuổi chưa đủ tuổi vị thành niên nên chị P là người giám hộ đại diện cho cháu T để đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến khi cháu T đủ 18 tuổi. Khi án có hiệu lực pháp luật chị sẽ có trách nhiệm giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở nói trên cho anh Đ1 biến động, sang tên cho anh Đ2 và cháu An T1 theo quy định. Anh Đ1 và cháu An T1 thống nhất theo yêu cầu của chị P.

Trường hợp chị P không giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh Đ1 để biến động sang tên thì anh Đ1 có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cấp lại giấy mới theo quy định của pháp luật về đất đai.

Mọi chi phí làm thủ tục sang tên giấy chúng nhận quyền sự dụng đất và giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà nói trên do anh Đ1 tự chịu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tại phiên tòa phát biểu:

Về tố tụng: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, những người tham gia tố tụng đã thực hiện và chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm áp dụng khoản 2 Điều 308, 309 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Chấp nhận kháng cáo của chị Phạm Thị Thùy P. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm Bản án sơ thẩm số 132/2023/DS-ST ngày 17/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang, theo hướng công nhận sự tự nguyện của đương sự tại phiên Tòa phúc thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ của nguyên đơn, bị đơn và người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Xét đơn kháng cáo của bị đơn chị Phạm Thị Thùy P về nội dung, quyền kháng cáo, thủ tục kháng cáo và thời hạn kháng cáo đã đúng quy định tại các Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận xem xét giải quyết kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung vụ án: Xét về nội dung kháng cáo của chị Phạm Thị Thùy P, Hội đồng xét xử xét thấy, nguồn gốc đất và nhà ở tọa lạc tại số B, đường L, khu phố C, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang, theo giấy CNQSD đất số AB987532 do UBND huyện K cấp ngày 12/9/2007 và giấy CNQSH nhà ở số 919023078700781 do UBND huyện K cấp ngày 28/8/2009 do chị Phạm Thị P đứng tên là tài sản do vợ chồng anh Đ1 và chị P tạo lập. Ngày 20/9/2016 giữa anh Đ1 và chị P có xác lập thỏa thuận để phân chia tài sản chung của vợ chồng. Chị P được quyền sử dụng và sở hữu tất cả các tài sản được liệt kê trong hợp đồng tín dụng số 0084/16/2073/KL ký ngày 03/02/2016. Còn anh Đ1 được sở hữu và sử dụng đất và nhà ở, tọa lạc tại số B, đường L, khu phố C, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang.

Hội đồng xét xử xét thấy: Theo tại Điều 38 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân có quy định.

“1. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của luật này, nếu không có thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Thỏa thuận về chia tài sản chung phải lập thành văn bản. Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.

3. Trong trường hợp vợ, chồng có yêu cầu Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 59 của Luật này”.

[3] Xét thấy, anh Đ1 và chị P có lập văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng và giao cho anh Đ1 được quyền sử dụng và sở hữu nhà ở tọa lạc tại số B, đường L, khu phố C, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang, anh Đ1 không có quyền sang nhượng căn nhà và đất nói trên và có trách nhiệm nuôi dưỡng con tên Lê Phạm Anh T4, sinh năm 2009, văn bản có chứng thực của Ủy ban nhân dân thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang ngày 20/9/2016. Việc chị P và anh Đ1 lập văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng là sự tự nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật, hiện nay chị P đang đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở. Do đó, cấp sơ thẩm công nhận cho anh Đ1 được sở hữu và sử dụng căn nhà và đất nói trên. Buộc chị P phải sang tên chuyển quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở tọa lạc tại số B, đường L, khu phố C, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang theo giấy CNQSD đất số AB987532 do UBND huyện K cấp ngày 12/9/2007 và giấy CNQSH nhà ở số 919023078700781 do UBND huyện K cấp ngày 28/8/2009 cho anh Lê Văn Đ1 là có căn cứ phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 221 Bộ luật dân sự năm 2015.

Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm anh Đ1 và chị P thống nhất thỏa thuận, chị P đồng ý giao nhà và đất số 20, đường L, khu phố C, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang theo giấy CNQSD đất số AB987532 do UBND huyện K cấp ngày 12/9/2007 và giấy CNQSH nhà ở số 919023078700781 do UBND huyện K cấp ngày 28/8/2009 cho anh Lê Văn Đ1 nhưng phải cho con trai tên Lê Phạm An T, sinh ngày sinh ngày 25/12/2009 (con chung của anh Lê Văn Đ1 và chị Phạm Thị Thùy P) cùng đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giấy quyền sở hữu nhà ở nói trên. Hiện nay cháu An T1 mới 15 tuổi nên chị Phạm Thị Thùy P (mẹ ruột cháu An T1) là người giám hộ cháu An T1 đến 18 tuổi thì chị P không còn giám hộ cho cháu An T1 theo quy định. Sau khi nhận được Bản án phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang anh Đ1 và chị P, cháu An T1 đến cơ quan có thẩm quyền để điều chỉnh sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giấy quyền sở hữu nhà ở cho anh Đ1 theo quy định. Trường hợp chị P không giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cho anh Đ1 thì anh Đ1 liên hệ với cơ quan có thẩm quyền xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giấy quyền sở hữu nhà ở theo quy định. Mọi chi phí điều chỉnh, sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ chị P sang tên cho anh Đ1 và cháu An T1 thì anh Đ1 phải chịu tất cả những chi phí này.

[4] Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, các đương sự đã tự nguyện thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, việc thỏa thuận này là sự tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất công nhận sự tự nguyện thỏa thuận này của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm.

Từ những nhận định nêu trên nên trong thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất: Chấp nhận nội dung kháng cáo của chị Phạm Thị Thùy P; Chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 132/2023/DS-ST ngày 17/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang, theo hướng công nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm như sau:

Chị P đồng ý giao nhà và đất tọa lạc tại số B, đường L, khu phố C, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang theo giấy CNQSD đất số AB987532 do UBND huyện K cấp ngày 12/9/2007 và giấy CNQSH nhà ở số 919023078700781 do UBND huyện K cấp ngày 28/8/2009 cho anh Lê Văn Đ1 và con trai tên Lê Phạm An T là con chung của anh Đ1 và chị P cùng đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hiện nay cháu An T1 mới 15 tuổi nên chị Phạm Thị Thùy P (mẹ ruột cháu An T1) là người giám hộ cháu An T1 đến 18 tuổi thì chị P không còn giám hộ cháu An T1 theo quy định.

Sau khi nhận được bản án phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang anh Đ1 và chị P, cháu An T1 được quyền liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền để điều chỉnh đăng ký biến động sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở và quyền sở hữu nhà ở nói trên cho anh Đ1 theo quy định. Trường hợp chị P không giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nói trên cho anh Đ1 thì anh Đ1 liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để xin cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định. Mọi chi phí điều chỉnh, biến động, sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ tên chị Phạm Thị Thúy P1 sang tên cho anh Lê Văn Đ1 và cháu Lê Phạm An T đứng tên thì anh Đ1 phải chịu tất cả những chi phí này.

Trường hợp các đương sự không tự nguyện thi hành án như đã thỏa thuận thì người được thi hành án có quyền làm đơn yêu cầu thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án.

[5] Về chi phí tố tụng:

[5.1] Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là: 1.000.000 đồng, anh Lê Văn Đ1 tự nguyện hỗ trợ nên Tòa cấp sơ thẩm ghi nhận là phù hợp.

[5.2] Chi phí trích đo địa chính: số tiền là 1.117.001 đồng. Yêu cầu của anh Đ1 được chấp nhận nên chị P1 phải chịu số tiền này. Nhưng anh Đ1 đã tạm ứng chi phí tố tụng cho Tòa án huyện K số tiền là 5.000.000 đồng. Vậy chị P1 có trách nhiệm trả lại cho anh Đ1 số tiền là 1.117.001 đồng theo hóa đơn giá trị gia tăng số 0000241 ngày 21/5/2021 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện K, tỉnh Kiên Giang.

Anh Đ1 được nhận lại số tiền tạm ứng chi phí tố tụng số tiền là 2.882.999 đồng, sau khi án có hiệu lực pháp luật anh Đ1 liên hệ Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương để nhận lại số tiền nói trên.

[6] Về án phí:

[6.1] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của anh Lê Văn Đ1 được chấp nên anh Đ1 không phải chịu án phí. Hoàn trả cho anh Đ1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0009990 ngày 20/02/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang.

Bà Phạm Thị Thùy P phải chịu số tiền án phí là 300.000 đồng.

[6.2] Về án phí dân sự phúc thẩm:

Kháng cáo của bà Phạm Thị Thùy P được chấp nhận, nên chị P không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho chị P số tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0001788 ngày 29/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 300, khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Chấp nhận nội dung kháng cáo của chị Phạm Thị Thùy P.

Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 132/2023/DS-ST ngày 17 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang.

Áp dụng Điều 189; Điều 190; khoản 2 Điều 221 Bộ luật dân sự; Điều 166, Điều 203 Luật đất đai; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ Ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Lê Văn Đ1 về việc yêu cầu công nhận cho anh Lê Văn Đ1 được quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở giữa anh Lê Văn Đ1 với chị Phạm Thị Thùy P. Buộc chị Phạm Thị Thùy P phải sang tên chuyển quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở, tọa lạc tại số B, đường L, khu phố C, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB987532 do UBND huyện K cấp ngày 12/9/2007 và giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở số 919023078700781 do UBND huyện K cấp ngày 28/8/2009 cho ông Lê Văn Đ1.
  2. Công nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm giữa nguyên đơn anh Lê Văn Đ1 và bị đơn chị Phạm Thị Thùy P như sau: Chị P đồng ý giao nhà và đất tọa lạc tại số B, đường L, khu phố C, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang theo giấy CNQSD đất số AB987532 do UBND huyện K cấp ngày 12/9/2007 và giấy CNQSH nhà ở số 919023078700781 do UBND huyện K cấp ngày 28/8/2009 cho anh Lê Văn Đ1 và con trai tên Lê Phạm An T là con chung của anh Đ1 và chị P cùng đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hiện nay cháu An T1 mới 15 tuổi nên chị Phạm Thị Thùy P (mẹ ruột cháu Lê Phạm An T) là người giám hộ cháu Lê Phạm An T đến đủ 18 tuổi thì chị P không còn giám hộ cháu An T1 theo quy định.
  3. Sau khi nhận được bản án phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang anh Đ1 và chị P, cháu An T1 được quyền liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền để điều chỉnh đăng ký biến động sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở nói trên cho anh Đ1 theo quy định. Trường hợp chị P không giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở nói trên cho anh Đ1 thì anh Đ1 liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để xin cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định. Mọi chi phí điều chỉnh, biến động, sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ tên chị Phạm Thị Thúy P1 sang tên cho anh Lê Văn Đ1 và cháu Lê Phạm An T đứng tên thì anh Đ1 phải chịu tất cả những chi phí này.

    Trường hợp các đương sự không tự nguyện thi hành án như đã thỏa thuận thì người được thi hành án có quyền làm đơn yêu cầu thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án.

  4. Về chi phí tố tụng:
    • 3.1. Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là: 1.000.000 đồng, anh Lê Văn Đ1 tự nguyện hỗ trợ nên Tòa cấp sơ đã thẩm ghi nhận.
    • 3.2. Chi phí trích đo địa chính: số tiền là 1.117.001 đồng (một triệu một trăm mười bảy nghìn không trăm lẻ một đồng). Yêu cầu của anh Lê Văn Đ1 được chấp nhận nên chị Phạm Thị Thùy P phải chịu số tiền này. Nhưng anh Đ1 đã tạm ứng chi phí tố tụng cho Tòa án huyện K số tiền là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng). Vậy chị P có trách nhiệm trả lại cho anh Đ1 số tiền là 1.117.001 đồng (một triệu một trăm mười bảy nghìn không trăm lẻ một đồng) theo hóa đơn giá trị gia tăng số 0000241 ngày 21/5/2021 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện K, tỉnh Kiên Giang.
    • Anh Lê Văn Đ1 được nhận lại số tiền tạm ứng chi phí tố tụng số tiền là 2.882.999 đồng (hai triệu tám trăm tám mươi hai nghìn chín trăm chín mươi chín đồng), sau khi án có hiệu lực pháp luật anh Đ1 liên hệ Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương để nhận lại số tiền nói trên.

  5. Về án phí:
    • 4.1 Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của anh Lê Văn Đ1 được chấp nên anh Đ1 không phải chịu án phí. Hoàn trả cho anh Đ1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0009990 ngày 20/02/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang.
    • Chị Phạm Thị Thùy P phải chịu số tiền án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).

    • 4.2. Về án phí dân sự phúc thẩm:
    • Chị P không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho chị Phạm Thị Thùy P số tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0001788 ngày 29/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Kiên Giang;
  • - TAND huyện Kiên Lương;
  • - THA dân sự huyện Kiên Lương;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Nhiên

9

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 113/2024/DS-PT ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở

  • Số bản án: 113/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Đ tranh chấp yêu cầu công nhận QSD đất và QSH nhà đối với bà P
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger