Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH

PHÓ BẠC LIÊU

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

——————————————

Bản án số: 113/2024/DS-ST

Ngày 13 tháng 9 năm 2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Chi

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lâm Thị Nguyệt Hồ

Ông Lê Tuấn Kiệt

Thư ký phiên tòa: Ông Trương Minh Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Trần Mỹ Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 261/2024/TLST-DS ngày 17 tháng 6 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 151A/2024/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần B; Địa chỉ trụ sở chính: L, số B đường T, Phường T, quận H, Thành Phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Hồ Nam T – Chức vụ: Tổng Giám đốc

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Tấn D – Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng TMCP B Chi nhánh B1(văn bản ủy quyền số 9721A/2023/QĐ- L1 ngày GSKD&XLN ngày 14/7/2023)

Người được ông Nguyễn Tấn D ủy quyền lại: Ông Nguyễn Văn Y, sinh năm 1981; chức vụ: chuyên viên, Ngân hàng TMCP B- Chi nhánh B1 (văn bản ủy quyền số 139B/2024/QĐ- BL ngày 02/02/2024).

Địa chỉ: Số E, đường T, phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.

- Bị đơn: Bà Tạ Tuyết T1, sinh năm 1979

Địa chỉ: Số R, đường N, Khóm C, Phường E, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.

(Đại diện nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn bà Tạ Tuyết T1 vắng mặt không rõ lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Ngân hàng TMCP B- đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Văn Y trình bày:

Vào ngày 02/12/2022 Ngân hàng thương mại cổ phần B, chi nhánh B1 (sau đây viết tắt là Ngân hàng) và bà Tạ Tuyết T1 ký hợp đồng hạn mức tín dụng số HDTD9202022369, nội dung Ngân hàng cho bà T1 vay hạn mức số tiền là 2.400.000.000 đồng, mục đích bổ sung vốn mua bán bánh, kẹo, nông sản; thời hạn vay 12 tháng; lãi suất cho vay được ghi trên khế ước nhận nợ, lãi suất vay điều chỉnh 3tháng/lần, lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn, lãi chậm trả 10%/năm. Bà T1 đã được giải ngân theo giấy nhận nợ số 9202022369/03 ngày 09/6/2023 với số tiền 2.110.000.000 đồng, ghi lãi suất 9%/năm và giấy nhận nợ số 9202022369/04 ngày 16/8/2023 với số tiền 242.000.000 đồng, ghi lãi suất 10,35%/năm. Để đảm bảo khoản vay, giữa bà T1 và Ngân hàng đã ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HĐTC 9202022119 ngày 23/5/2022 thế chấp quyền sử dụng đất diện tích 105,5m², loại đất ở đô thị, tại thửa đất số 632, tờ bản đồ 17, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX566023 cấp ngày 30/12/2014 cho Công ty TNHH T2, cập nhật biến động chuyển nhượng cho bà Tạ Tuyết T1 ngày 29/01/2021 đất tọa lạc tại Khu dân cư T, Khóm A, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.

Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Tạ Tuyết T1 đã trả được 339.329.700 đồng (trong đó nợ gốc là 273.000.076 đồng, lãi 66.329.624 đồng). Kể từ ngày 16/02/2024 bà T1 đã không thanh toán nợ đúng hạn và đã phát sinh nợ quá hạn. Do bà Tạ Tuyết T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng yêu cầu bà Tạ Tuyết T1 thanh toán cho Ngân hàng TMCP B số tiền nợ tính đến ngày 13/9/2024 là 2.225.645.805 đồng (gồm tiền gốc là 2.078.999.924 đồng; lãi trong hạn là 18.796.309 đồng và lãi quá hạn là 127.849.572 đồng). Kể từ ngày 14/9/2024 trở đi bà Tạ Tuyết T1 còn phải tiếp tục chịu lãi, lãi quá hạn phát sinh theo các hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số nợ cho Ngân hàng. Trường hợp Tạ Tuyết T1 không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi toàn bộ nợ cho Ngân hàng.

Bị đơn Tạ Tuyết T1 đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thống báo về việc tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng đã không đến Tòa án theo triệu tập.

Tại bản tự khai, Biên bản về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ đại diện Ngân hàng TMCP B vẫn giữ nguyên yêu cầu, ý kiến của mình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu phát biểu quan điểm cho rằng:

- Về tố tụng: quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình và có đơn xin xét xử vắng mặt hợp lệ nên chấp nhận; bị đơn đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ 02 lần, nhưng vắng mặt không có lý do, nên đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt các đương sự.

- Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B. Buộc Tạ Tuyết T1 thanh toán nợ cho ngân hàng tính đến hết ngày 13/9/2024 là 2.225.645.805 đồng (gồm tiền gốc là 2.078.999.924 đồng; lãi trong hạn là 18.796.309 đồng và lãi quá hạn là 127.849.572 đồng) và tiền lãi quá hạn thực tế phát sinh trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất của hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi trả hết nợ.

Trường hợp bà Tạ Tuyết T1 không trả được nợ thì Ngân hàng TMCP B được quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền bán đấu giá tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất diện tích 105,5m², loại đất ở đô thị, tại thửa đất số 632, tờ bản đồ 17 để thu hồi nợ.

- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Bị đơn phải chịu theo quy định pháp luật.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu về việc tuân theo pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng Thương mại cổ phần B khởi kiện yêu cầu bà Tạ Tuyết T1 trả nợ vay theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Bị đơn có nơi cư trú tại thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. Nên đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng định tại khoản 3 Điều 26 và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Xét xử vắng mặt đương sự: Đại diện nguyên đơn là ông Nguyễn Văn Y có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt lần thứ hai nên căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần B.

[3.1] Xét Hợp đồng hạn mức tín dụng số HDTD9202022369 ngày 02/12/2022, số tiền cho vay là 2.400.000.000 đồng (Hai tỷ bốn trăm triệu đồng), mục đích bổ sung vốn kinh doanh mua bán bánh, kẹo, nông sản; thời hạn vay 12 tháng; lãi suất cho vay được ghi trên khế ước nhận nợ, lãi suất điều chỉnh 3 tháng/lần, lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn, lãi chậm trả 10%/năm; Theo giấy nhận nợ số 9202022369/03 ngày 09/6/2023 với số tiền 2.110.000.000 đồng, ghi lãi suất 9%/năm và giấy nhận nợ số 9202022369/04 ngày 16/8/2023 với số tiền 242.000.000 đồng, ghi lãi suất 10,35%/năm Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn đã được bị đơn Tạ Tuyết T1 ký xác nhận.

Hội đồng xét xử xét thấy, hợp đồng tín dụng nêu trên đã được các bên tự nguyện ký kết, hình thức, nội dung thỏa thuận tạ thời điểm ký kết phù hợp theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 107 Luật các tổ chức tín dụng. Các bên thoả thuận lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn được nêu trong hợp đồng tín dụng phù hợp với quy định tại Điều 100 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao. Do đó, bị đơn đã vay tiền thì phải có nghĩa vụ trả nợ vay như thỏa thuận đã ký kết.

Nay bà Tạ Tuyết T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Tạ Tuyết T1 trả nợ vay theo hợp đồng tín dụng và giấy nhận nợ đã ký kết với tổng số nợ tính đến 13/9/2024 là 2.225.645.805 đồng (gồm tiền gốc là 2.078.999.924 đồng; lãi trong hạn là 18.796.309 đồng và lãi quá hạn là 127.849.572 đồng) là có căn cứ chấp nhận. Bà Tạ Tuyết T1 còn phải tiếp tục chịu lãi, lãi quá hạn phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số nợ cho Ngân hàng.

[3.2] Xét Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HĐTC 9202022119 ngày 23/5/2022: Để đảm bảo cho khoản vay nêu trên, bà Tạ Tuyết T1 với Ngân hàng TMCP B đã ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất diện tích 105,5m2, loại đất ở đô thị, tại thửa đất số 632, tờ bản đồ 17, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX566023 cấp ngày 30/12/2014 cho Công ty TNHH T2, cập nhật biến động chuyển nhượng cho bà Tạ Tuyết T1 ngày 29/01/2021, đất tọa lạc tại Khu dân cư T, Khóm A, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.

Xét thấy, tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng cho bà Tạ Tuyết T1, nên bà T1 là chủ sở hữu hợp pháp của tài sản này. Hợp đồng thế chấp đã được các bên tự nguyện ký kết, được công chứng theo quy định và đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B đăng ký thế chấp đúng theo quy định, nên hợp đồng thế chấp đã ký có hiệu lực pháp luật và các bên ký kết phải có nghĩa vụ thực hiện.

[3.3] Theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 16/7/2024 thể hiện tài sản thế chấp là phần đất diện tích 105,5m², tại thửa đất số 632, tờ bản đồ 17, loại đất ở đô thị. Hiện trạng là đất trống, không có công trình xây dựng hay cây trồng nào khác. Đại diện nguyên đơn xác định phần đất hiện vẫn do bà Tạ Tuyết T1 quản lý, sử dụng. Do bà T1 không đến Tòa án làm việc nên chấp nhận ý kiến của đại diện nguyên đơn về việc người đang quản lý tài sản thế chấp là bà T1. Xét thấy, có căn cứ xác định hình thức và nội dung của hợp đồng thế chấp đã thực hiện đúng quy định pháp luật nên Ngân hàng thương mại cổ phần B yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất nêu trên để thu hồi nợ trong trường hợp bà Tạ Tuyết T1 không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ cho Ngân hàng là có căn cứ chấp nhận.

[4] Về chi phí xem xét, thẩm định tài sản thế chấp: Do chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần B, nên bà Tạ Tuyết T1 phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật.

[5] Về án phí: Ngân hàng thương mại cổ phần B được chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện nên không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm, Ngân hàng được hoàn lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Bà Tạ Tuyết T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 76.512.916 đồng theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự và Điều 26 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

[6] Đối với đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 207; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; điểm a, b khoản 1 Điều 238; Điều 271, Điều 273; Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 292, 295, 298, 299, 317; khoản 1 Điều 318, các Điều 319, 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự.

Điều 100, 103, điểm a khoản 3 Điều 107 Luật các Tổ chức tín dụng.

Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B.
  2. Buộc bà Tạ Tuyết T1 có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP B số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 13/9/2024) là 2.225.645.805 đồng (Hai tỷ, hai trăm hai mươi lăm triệu, sáu trăm bốn mươi lăm ngàn tám trăm lẻ năm đồng). Trong đó gồm: Vốn gốc là 2.078.999.924 đồng; lãi trong hạn là 18.796.309 đồng và lãi quá hạn là 127.849.572 đồng.
  3. Buộc bà Tạ Tuyết T1 tiếp tục trả lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký, kể từ ngày 24 tháng 9 năm 2024 cho đến ngày thực tế bà T1 trả hết nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần B.
  4. Trường hợp bà Tạ Tuyết T1 không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng TMCP B có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi toàn bộ nợ vay là quyền sử dụng đất diện tích 105,5m², tại thửa đất số 632, tờ bản đồ 17, loại đất ở đô thị, tọa lạc tại khu dân cư T, Khóm A, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, hiện là đất trống không có công trình xây dựng hay cây trồng nào khác; đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX566023, cấp biến động chuyển nhượng cho bà Tạ Tuyết T1 ngày 29/01/2021.
  5. Về chi phí xem xét thẩm định tại chổ là 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng). bà Tạ Tuyết T1 phải chịu toàn bộ. Ngân hàng Thương mại Cổ phần B đã dự nộp số tiền 600.000 đồng nên bà Tạ Tuyết T1 phải hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần B số tiền 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng).
  6. Về án phí: Bà Tạ Tuyết T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 76.512.916 đồng (Bảy mươi sáu triệu, năm trăm mười hai ngàn, chín trăm mười sáu đồng).

Ngân hàng thương mại cổ phần B không phải chịu án phí, Ngân hàng đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 38.256.000 đồng (Ba mươi tám triệu, hai trăm năm mươi sáu ngàn đồng) theo biên lai thu số 0002824 ngày 14/6/2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu, nay được hoàn lại toàn bộ số tiền đã nộp.

  1. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án sơ thẩm xử công khai, nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bạc Liêu;
  • - VKSND thành phố Bạc Liêu;
  • - Chi Cục THA.DS thành phố Bạc Liêu;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phạm Thị Chi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 113/2024/DS-ST ngày 13/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 113/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1./ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt. 2/. Buộc bà Tạ Tuyết Thu có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 13/9/2024) là 2.225.645.805 đồng (Hai tỷ, hai trăm hai mươi lăm triệu, sáu trăm bốn mươi lăm ngàn tám trăm lẻ năm đồng). Trong đó gồm: Vốn gốc là 2.078.999.924 đồng; lãi trong hạn là 18.796.309 đồng và lãi quá hạn là 127.849.572 đồng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger