Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH BÌNH

TỈNH ĐỒNG THÁP

Bản án số: 113/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 11-7-2024.

V/v tranh chấp hôn nhân gia đình ly

hôn, nuôi con chung

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Bích Thơ

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Ngô Văn Khon.
  2. Ông Nguyễn Hoàng Minh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Bích là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thế Nhân – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 26 tháng 6 và ngày 11 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 192/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp hôn nhân gia đình ly hôn, nuôi con chung, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 87/2024/QÐST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị D, sinh năm: 1987 (vắng mặt có đơn xin vắng mặt);

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T (H), sinh năm: 1986 (có mặt).

Cùng nơi cư trú: Khóm T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 13/5/2024, bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải và trong quá trình xét xử;

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị D trình bày: Về hôn nhân: Do anh T làm ruộng gần nhà chị D nên biết mặt, anh T nhờ cha mẹ đến gặp gia đình hỏi cưới, nên chưa tìm hiểu kỹ, tổ chức đám cưới năm 2011, đăng ký kết hôn ngày 12/3/2012 tại UBND thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Lý do mâu thuẩn chị D và anh T cùng đi làm công nhân, nhưng anh T không phụ giúp chăm sóc con, không đưa tiền mua sữa, tiền học cho con, cháu Ngọc A bị khối u bạch huyết, phải nhập viện điều trị nhưng anh T không quan tâm, không chở đi khám bệnh, nên chị D đã về nhà cha mẹ chị D sống gần 01 năm nay, anh T chỉ đưa được số tiền 4.000.000đ để làm thủ tục nhập viện cho con. Về con chung có 03 người con Nguyễn Ngọc Ánh D1, sinh ngày 26/5/2012, Nguyễn Phước T1, sinh ngày 17/3/2015, Nguyễn Thị Ngọc A1, sinh ngày 21/02/2022, hiện nay do chị D nuôi dưỡng. Về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nay chị Nguyễn Thị D yêu cầu ly hôn với anh T, con chung yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Ánh D1, P, Ngọc A1, yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con với mức cấp dưỡng cho mỗi cháu là 2.000.000đ/tháng, tài sản chung và nợ chung không có không yêu cầu Tòa án giải.

- Tại phiên tòa bị đơn anh Nguyễn Văn T trình bày: Thống nhất lời trình bày của chị D về thời gian chung sống, có đăng ký kết hôn, con chung, tài sản chung và nợ chung nêu trên. Đối với việc mâu thuẩn vợ chồng như lời trình bày của chị D là không có, vợ chồng anh chị không có mâu thuẩn gì hết, vào tháng 11/2023 chị D có mâu thuẩn với mẹ chồng nên đã dẫn con về nhà cha mẹ ở B sinh sống cho đến nay, vợ chồng anh không có cự cải. Đối với ý kiến chị D mâu thuẩn do vấn đề kinh tế là không có, anh T đi làm công nhân thu nhập bình quân mỗi tháng là 4.000.000₫, anh có đưa cho chị D mỗi tháng từ 2000.000đ đến 3.000.000đ để chi tiêu sinh hoạt gia đình và nuôi con, và mẹ ruột của anh cũng góp một phần tiền vào sinh hoạt chung gia đình. Từ khi ly thân anh T có đến thăm con nhưng bị chị D chửi mắn không cho thăm, anh không có chu cấp tiền nuôi con cho chị D, anh có trực tiếp cho tiền cho các con đi học. Nay anh T không thống nhất ly hôn với chị D, con chung không thống nhất giao con chung cho chị D nuôi và không đồng ý cấp dưỡng, anh T yêu cầu nuôi dưỡng 03 con chung và không yêu cầu chị D cấp dưỡng cho con, tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại phiên tòa Kiểm sát viên Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật như đến tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, không có văn bản trình bày ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho mình là vi phạm Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự, cần phê phán rút kinh nghiệm.

Về ý kiến giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 19, khoản 1 Điều 56, khoản 3 Điều 82, khoản 1Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình và khoản 11 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị D đối với anh T, giao con chung Nguyễn Ngọc Ánh D1, sinh ngày 26/5/2012, Nguyễn Phước T1, sinh ngày 17/3/2015, Nguyễn Thị Ngọc A1, sinh ngày 21/02/2022 cho chị H1 nuôi dưỡng, anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Ánh D1, Phước T1, Ngọc Al với mức cấp dưỡng mỗi tháng là ½ tháng lương tối thiểu vùng cho mỗi cháu tại nơi cư trú của anh T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về pháp luật tố tụng:

[1.1.] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Nguyễn Văn T, hiện nay đăng ký cư trú khóm T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, nguyên đơn khởi kiện tại Tòa án nơi bị đơn cư trú, nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2.] Về quan hệ pháp luật: Chị D và anh T có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, nay chị D yêu cầu ly hôn với anh T, con chung yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Ánh D1, Phước T1, Ngọc A1, nên phát sinh tranh chấp hôn nhân gia đình ly hôn và nuôi con chung, Tòa án thụ lý giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Về pháp luật áp dụng: Tranh chấp hôn nhân gia đình ly hôn, nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử áp dụng quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết.

[1.4.] Về việc vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị D vắng mặt có đơn xin vắng, nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt của chị D là phù hợp và đúng theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và điểm a khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về hôn nhân: Hôn nhân giữa chị D và anh T hoàn toàn tự nguyện và thực tế đã xảy ra, anh chị có đăng ký kết hôn theo quy định. Trong quá trình chung sống xuất phát từ mâu thuẩn do bất đồng quan điểm sống, không phụ giúp kinh tế để nuôi con, không quan tâm chăm sóc khi con bị bệnh, đã ly thân từ tháng 11/2023. Nay chị D yêu cầu ly hôn với anh T nhưng anh T không thống nhất ly hôn với chị D, Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân là sự tự nguyện, không ai cưởng ép hay ép buộc, cả hai phải tôn trọng, giúp đở, chăm sóc, giữ gìn hạnh phúc gia đình, để nuôi dạy con, nhưng giữa chị D và anh T không có sự gắn kết, không có tiếng nói chung, mâu thuẩn trầm trọng, kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Mặt khác, chị D và anh T đã được Tòa án thông báo hòa giải 02 lần để tạo cơ hội cho anh chị hàn gắn tình cảm, nhưng anh T không đến tham dự các phiên hòa giải và đã ly thân gần 1 năm, nhưng anh chị vẫn không hàn gắn đoàn tụ được.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị D đối với anh Nguyễn Văn T là phù hợp và đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về con chung:

[2.2.1.] Về nuôi con chung chưa thành niên: Cháu Nguyễn Ngọc Ánh D1, sinh ngày 26/5/2012, Nguyễn Phước T1, sinh ngày 17/3/2015, Nguyễn Thị Ngọc A1, sinh ngày 21/02/2022, hiện nay các cháu do chị D chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị D yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Ánh D1, Phước T1, Ngọc A1 đến trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh T không thống nhất yêu cầu nuôi con chung của chị D, anh T yêu cầu được quyền nuôi dưỡng 03 con chung nêu trên. Cháu D1, cháu T1 có nguyện vọng được chị D nuôi dưỡng và cháu Ngọc A1 chưa đủ 03 tuổi. Các cháu được chị D tạo điều kiện cho đi học và chăm sóc sức khỏe tốt, không có căn cứ chứng minh chị D không hoàn thành nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con. Để đảm bảo cho các cháu có cuộc sống ổn định, phát triển tốt về thể chất và tinh thần, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các cháu, phù hợp với nguyện vọng của cháu D1 và cháu T1, ổn định tâm lý và tình cảm của các con và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chưa thành niên sau khi ly hôn.

Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nuôi con chung của chị D đối với anh T, tiếp tục giao cháu Nguyễn Ngọc Ánh D1, sinh ngày 26/5/2012, Nguyễn Phước T1, sinh ngày 17/3/2015, Nguyễn Thị Ngọc A1, sinh ngày 21/02/2022 cho chị D nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến trưởng thành đủ 18 tuổi và có khả năng lao động là phù hợp với Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình, anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom các con không ai được cản trở.

[2.2.2.] Về cấp dưỡng cho con: Chị D yêu cầu anh T cấp dưỡng cho các con với mức cấp dưỡng là 2.000.000đ/tháng/cháu, anh T không đồng ý cấp dưỡng cho các con, nên giữa chị D và anh T không thỏa thuận được mức cấp dưỡng cho con.

Hội đồng xét xử xét thấy chị D là người trực tiếp nuôi con, có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cấp dưỡng cho con với mức cấp dưỡng phù hợp với thu nhập của anh T. Tại phiên tòa anh T khai là công nhân sửa cá Công ty H2, mỗi tháng thu nhập 4.000.000đ (Bốn triệu đồng). Ngoài ra chị D không cung cấp được chứng cứ nào khác chứng minh thu nhập và khả năng thực tế của anh T để yêu cầu mức cấp dưỡng 2.000.000đ/tháng/cháu. Vì vậy, Hội đồng xét xử buộc anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng cho mỗi người con với mức cấp dưỡng là ½ tháng lương tối thiểu vùng tại nơi anh T đang cư trú, là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 82, Điều 110, 116 Luật hôn nhân và gia đình.

[2.3] Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.4] Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.5] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị D phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Bị đơn anh Nguyễn Văn T phải chịu án phí cấp dưỡng cho con.

[3] Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử do đó được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83, Điều 110, 116 Luật hôn nhân gia đình; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và điểm a khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị D đối với anh Nguyễn Văn T, cho chị Nguyễn Thị D ly hôn với anh Nguyễn Văn T.

2. Về con chung: Chấp nhận yêu cầu nuôi con chung của chị Nguyễn Thị D đối với anh Nguyễn Văn T.

Giao cháu Nguyễn Ngọc Ánh D1, sinh ngày 26/5/2012, cháu Nguyễn Phước T1, sinh ngày 17/3/2015, cháu Nguyễn Thị Ngọc A1, sinh ngày 21/02/2022 cho chị Nguyễn Thị D tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến trưởng thành đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Anh Nguyễn Văn T có nghĩa vụ cấp dưỡng hàng tháng cho cháu Nguyễn Ngọc Ánh D1, sinh ngày 26/5/2012, Nguyễn Phước T1, sinh ngày 17/3/2015, Nguyễn Thị Ngọc A1, sinh ngày 21/02/2022 với mức cấp dưỡng là ½ tháng lương tối thiểu vùng tại nơi anh Nguyễn Văn T đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con đến khi cháu Ánh D1, cháu Phước T1, cháu Ngọc A1 trưởng thành đủ 18 tuổi và có khả năng lao động, thời hạn cấp dưỡng kể từ ngày xét xử sơ thẩm là ngày 11/7/2024.

Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Văn T không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Anh Nguyễn Văn T không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Nguyễn Thị D có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm con của anh Nguyễn Văn T.

3. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị D phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đ, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị Nguyễn Thị D đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0006598 ngày 13/5/2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp, chị D không phải nộp thêm.

Bị đơn anh Nguyễn Văn T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng cho con.

Các đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 11/7/2024). Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKS ND huyện;
  • - Chi cục THA DS huyện;
  • - Tòa án ND tỉnh;
  • - Cổng TTĐT Tòa án;
  • - UBND thị trấn Thanh Bình, TB, ĐT;
  • - Lưu: VT/, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lý Thị Bích Thơ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 113/2024/HNGĐ-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hôn nhân gia đình ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 113/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hôn nhân gia đình ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger