|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỘI AN TỈNH QUẢNG NAM |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:113/2024/HNGĐ-ST Ngày: 10-7-2024 V/v Ly hôn, tranh chấp con chung. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỘI AN - TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Vũ
Bà Huỳnh Thị Kim Oanh
- Thư ký phiên toà: Ông Zơ Râm Quốc Sinh – Thư ký Toà án nhân dân thành
phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam tham
gia phiên toà: Bà Lê Thị Cẩm Giang – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 26/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 02 năm 2024 về tranh chấp ly hôn và con chung, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2024/QÐST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lê Nhật T, sinh năm: 1998; Nơi cư trú: Tổ A, thôn T, xã C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam (có mặt).
- Bị đơn: Bà Nguyễn Các G, sinh năm: 2002; Nơi cư trú: Tổ B, thôn B, xã C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 20/02/2024 và các lời khai có trong vụ án, nguyên đơn ông Lê Nhật T trình bày:
Ông Lê Nhật T và bà Nguyễn Các G chung sống với nhau từ năm 2019 và kết hôn với nhau vào ngày 30/6/2022, có đăng ký kết hôn tại UBND phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam. Kết hôn trên cơ sở tự nguyện và được sự đồng ý của hai bên gia đình. Vợ chồng chung sống với nhau được 1 năm thì phát mâu thuẫn; nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống; sau khi sinh con thứ 2 được 3 tháng thì bà G tự ý bỏ nhà đi. Nay vợ chồng đã sống ly thân, tình cảm không còn nên ông T yêu cầu được ly hôn bà G.
Về con chung: Có 02 con chung là Nguyễn Lê Trung K, sinh ngày: 11/4/2019 và Lê Diệu Nhã U, sinh ngày: 16/12/2022; hiện nay 02 con đang sống với ông T. Nay vợ chồng ly hôn, ông T có nguyện vọng nuôi 02 con và không yêu cầu bà G cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn, bà Nguyễn Các G đã được triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án làm việc nên không có lời trình bày.
Đại diện VKSND thành phố Hội An phát biểu quan điểm giải quyết vụ án.
Quá trình Toà án cấp sơ thẩm đã thụ lý, giải quyết, xét xử vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng quy định của BLTTDS. Nguyên đơn chấp hành tốt quy định của pháp luật, bị đơn không chấp hành quy định pháp luật. Về nội dung vụ án Viện kiểm sát cho rằng: Vợ chồng ông T và bà G đã mâu thuẫn trầm trọng nên đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Nhật T, cho ông T được ly hôn bà G, về con chung đề nghị giao 02 con Nguyễn Lê Trung K và Lê Diệu N Uyên cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng; tài sản chung và nợ chung không yêu cầu giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ông Lê Nhật T yêu cầu ly hôn và giải quyết con chung đối với bà Nguyễn Các G; bà G có nơi cư trú tại xã C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn bà Nguyễn Các G đã được triệu tập hợp lệ đến phiên toà xét xử lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227 của BLTTDS, Toà án xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân:
Về nội dung vụ án: Ông Lê Nhật T và bà Nguyễn Các G có đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng sau khi kết hôn được 1 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm. Hiện nay, vợ chồng ông T và bà G đã sống ly thân, bà G đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa án làm việc, không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu của nguyên đơn chứng tỏ bà G là người không coi trọng cuộc hôn nhân của mình. Do đó, HĐXX xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được; căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân gia đình xử cho ông Lê Nhật T được ly hôn bà Nguyễn Các G phù hợp.
[3] Về con chung:
Ông Lê Nhật T khai: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Lê Trung K, sinh ngày: 11/4/2019 và Lê Diệu Nhã U, sinh ngày: 16/12/2022; nhưng trong giấy khai Nguyễn Lê Trung K không có tên cha, ông Lê Nhật T đã nộp cho Tòa án Kết quả phân tích ADN huyết thống xác định ông Lê Nhật T và Lê Trung K có mối quan hệ cha con. Theo đơn xác nhận của trưởng khối T, phường C thì 02 con Nguyễn Lê Trung K và Lê Diệu Nhã U đang sống với ông Lê Nhật T. Tại phiên tòa hôm nay, ông T giữ nguyên nguyện vọng nuôi 02 con và không yêu cầu bà G cấp dưỡng, bản thân bà G không có ý kiến đối với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Do đó, để ổn định cuộc sống, đảm bảo tốt nhất về mọi mặt cho các con, HĐXX thống nhất giao các con Nguyễn Lê Trung K và Lê Diệu Nhã U cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Lê Nhật T không yêu cầu bà Nguyễn Các G cấp dưỡng nuôi con chung.
Bà Nguyễn Các G có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
[5] Về án phí: Ông Lê Nhật T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 54, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Luật phí, lệ phí Tòa án; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của ông Lê Nhật T đối với bà Nguyễn Các G về việc “Ly hôn, tranh chấp về con chung”.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Lê Nhật T được ly hôn với bà Nguyễn Các G.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên là Nguyễn Lê Trung K, sinh ngày: 11/4/2019 và Lê Diệu Nhã U, sinh ngày: 16/12/2022;
Giao con Nguyễn Lê Trung K và Lê Diệu N Uyên cho ông Lê Nhật T trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Lê Nhật T không yêu cầu bà Nguyễn Các G cấp dưỡng nuôi con chung.
Bà Nguyễn Các G có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
3. Về án phí: Ông Lê Nhật T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu số 0018899, ngày 29/2/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hội An.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Ngọc Hà |
Bản án số 113/2024/HNGĐ-ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỘI AN TỈNH QUẢNG NAM về ly hôn, tranh chấp con chung
- Số bản án: 113/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỘI AN TỈNH QUẢNG NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
