Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT

TỈNH ĐẮK LẮK

Bản án số: 113/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 10/7/2024

“V/v ly hôn và tranh chấp nuôi con”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Tiến Dũng

2. Ông Đỗ Văn Dược

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hà – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Ông Đào Anh Vũ.

Ngày 10 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 209/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2024 về “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 166/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2023, giữa:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thanh T – Sinh năm: 1991

Địa chỉ: Số B đường V, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt)

2. Bị đơn: Ông Đỗ Mạnh T1 – Sinh năm: 1987

Địa chỉ: Số G, buôn K, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn bà Trần Thị Thanh T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Thanh T và ông Đỗ Mạnh T1 tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn ngày 20/01/2010 tại UBND xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung nên thường xuyên mâu thuẫn, cãi nhau. Bà T, ông T1 đã sống ly thân từ tháng 6/2023 và không thể hàn gắn được. Hiện nay tình cảm vợ chồng không còn nữa, đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn.

Về con chung: Bà T và ông T1 có 03 con chung là cháu Đỗ Minh A, sinh ngày 12/11/2009; cháu Đỗ Minh T2, sinh ngày 19/6/2013, cháu Đỗ Trần Khả N, sinh ngày 09/7/2018. Khi ly hôn nguyện vọng của bà T xin được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung là cháu Đỗ Trần Khả N, sinh ngày 09/7/2018 cho đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi) và đồng ý giao hai con chung là cháu Đỗ Minh A, sinh ngày 12/11/2009, cháu Đỗ Minh T2, sinh ngày 19/6/2013 cho ông T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung : Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn ông Đỗ Mạnh T1 trình bày:

Ông Đỗ Mạnh T1 và bà Trần Thị Thanh T là vợ chồng tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại UBND xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk ngày 20/01/2010.

Ông T1 và bà Thủy c sống hạnh phúc. Đến thời gian gần đây thì phát sinh mâu thuẫn vì bất đồng quan điểm sống. Hiện ông T1 và bà T đã sống ly thân. Nay Bà T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì ông T1 đồng ý ly hôn.

Về con chung: Ông T1 và bà T có 03 con chung là cháu Đỗ Minh A, sinh ngày 12/11/2009; cháu Đỗ Minh T2, sinh ngày 19/6/2013, cháu Đỗ Trần Khả N, sinh ngày 09/7/2018. Nếu như Tòa án giải quyết cho ly hôn thì nguyện vọng của ông T1 muốn được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung là các cháu Đỗ Minh A, sinh ngày 12/11/2009; cháu Đỗ Minh T2, sinh ngày 19/6/2013, còn cháu Đỗ Trần Khả N, sinh ngày 09/7/2018 thì để bà T trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ông T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột:

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Thanh T. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Thanh T được ly hôn với ông Đỗ Mạnh T1. Về con chung: Giao con chung cháu Đỗ Minh A, sinh ngày 12/11/2009; cháu Đỗ Minh T2, sinh ngày 19/6/2013 cho ông Đỗ Mạnh T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng tới tuổi trưởng thành. Giao con chung Đỗ Trần Khả N, sinh ngày 09/7/2018 cho bà Trần Thị Thanh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng tới tuổi trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trần Thị Thanh T và ông Đỗ Mạnh T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền và quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn bà Trần Thị Thanh T yêu cầu ly hôn ông Đỗ Mạnh T1, địa chỉ cư trú: Số G, buôn K, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, thì đây là vụ án “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Thanh T và ông Đỗ Mạnh T1 tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk ngày 20/01/2010 là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

T và ông T1 thừa nhận cuộc sống chung có nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống. Hiện nay đã sống ly thân. Bà T xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông T1 và đề nghị Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông T1. Ông T1 mặc dù thừa nhận mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân với bà T và cũng đồng ý ly hôn nhưng khi Tòa án triệu tập để các đương sự thỏa thuận giải quyết toàn bộ vụ án thì ông T1 không có mặt.

Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa vợ chồng bà T, ông T1 đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Thanh T, cho bà T ly hôn với ông Đỗ Mạnh T1.

[2.2] Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Trần Thị Thanh T và ông Đỗ Mạnh T1 có ba con chung: Cháu Đỗ Minh A, sinh ngày 12/11/2009; cháu Đỗ Minh T2, sinh ngày 19/6/2013, cháu Đỗ Trần Khả N, sinh ngày 09/7/2018.

Trần Thị Thanh T và ông Đỗ Mạnh T1 đều có nguyện vọng giao con chung cháu Đỗ Minh A, sinh ngày 12/11/2009; cháu Đỗ Minh T2, sinh ngày 19/6/2013 cho ông Đỗ Mạnh T1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi) và giao con chung cháu Đỗ Trần Khả N, sinh ngày 09/7/2018 cho bà Trần Thị Thanh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).

Hội đồng xét xử xét thấy, cần chấp nhận theo nguyện vọng của các đương sự giao con chung cháu Đỗ Minh A, sinh ngày 12/11/2009; cháu Đỗ Minh T2, sinh ngày 19/6/2013 cho ông Đỗ Mạnh T1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi) và giao con chung cháu Đỗ Trần Khả N, sinh ngày 09/7/2018 cho bà Trần Thị Thanh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi), là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà T, ông T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra để xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Trần Thị Thanh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra để giải quyết là phù hợp.

[4] Về án phí: Bà Trần Thị Thanh T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 220; Điều 266; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự.

- Căn cứ Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Thanh T.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Thanh T được ly hôn với ông Đỗ Mạnh T1.

Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung:

Giao con chung cháu Đỗ Minh A, sinh ngày 12/11/2009; cháu Đỗ Minh T2, sinh ngày 19/6/2013 cho ông Đỗ Mạnh T1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).

Giao con chung cháu Đỗ Trần Khả N, sinh ngày 09/7/2018 cho bà Trần Thị Thanh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Trần Thị Thanh T và ông Đỗ Mạnh T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trần Thị Thanh T và ông Đỗ Mạnh T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Bà Trần Thị Thanh T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ trong số tiền 300.000 đồng đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0005417 ngày 01/3/2024.

Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đắk Lắk ;
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND TP.BMT;
  • - CCTHADS TP.BMT;
  • - UBND xã Ea Kao, TP.BMT, tỉnh Đắk Lắk;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 113/2024/HNGĐ-ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về ly hôn và tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 113/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TRẦN THỊ THANH T LY HÔN ĐỖ MẠNH T1
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger