|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 113/2024/HS-PT Ngày 05-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Hà Văn Nâu.
Các Thẩm phán: 1. Ông Nguyễn Hải Vinh;
2. Bà Phạm Thị Minh Hiền.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Hoàng Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 08/7/2024, tại trụ sở, Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 105/TLPT-HS ngày 26/4/2024 đối với bị cáo Thân Ba D do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2024/HS-ST ngày 19/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
- Bị cáo có kháng cáo:
Thân Ba D, sinh năm 1990; Giới tính: Nam Tên gọi khác: Không. Nơi cư trú: tổ dân phố số C, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang. Quốc tịch: Việt Nam; Dân Tộc: Kinh. T: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 9/12; Con ông: Thân Văn T (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị N, sinh năm 1962; Vợ, con: Chưa có; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất.
Tiền án:
- - Bản án số 212/2011/HSST ngày 21/11/2011 của Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/06/2012.
- - Bản án số 80/2012/HSST ngày 26/10/2012 của Toà án nhân dân huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/4/2013.
Tiền sự: Không.
Nhân thân:
- - Ngày 12/3/2011, bị Công an thị trấn T, huyện H xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
- - Ngày 22/3/2011, bị Công an thị trấn T, huyện H xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản.
- - Ngày 07/4/2011, bị Chủ tịch UBND thị trấn T, huyện H ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thời hạn 06 tháng.
- - Ngày 03/9/2013, bị Công an thị trấn T, huyện H xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản.
Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/12/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B, có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị M – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B, có mặt.
- Bị hại:
Bà Hà Thị G, sinh năm 1966; cư trú thôn S, xã N, huyện H, tỉnh Bắc Giang, có mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1962; nơi cư trú tổ dân phố số C, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang, có mặt.
- Người làm chứng:
- - Bà Nguyễn Thị B- Sinh năm 1967;
- - Ông Ngô Văn T1- Sinh năm 1967;
- - Bà Hà Thị C- Sinh năm 1972;
- - Anh Nguyễn Văn M1- Sinh năm 1968;
Cùng địa chỉ thôn S, xã N, huyện H, tỉnh Bắc Giang, đều có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Thân Ba D, sinh năm 1990, trú tại tổ dân phố số C, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang là đối tượng có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích. Do không có công ăn việc làm nên D nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để lấy tiền chi tiêu. Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 14/12/2023, D điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98F7- 6961 từ thôn X, xã L đến khu vực thôn S, xã N, huyện H mục đích tìm kiếm có gia đình nào sơ hở trong quản lý tài sản để trộm cắp. Khi đi, D tìm kiếm dụng cụ tự làm một chiếc thòng lọng rồi cất giấu trong người và nhặt 01 (một) chiếc bao tải dứa màu đỏ tại bãi rác cất trong cốp xe mô tô. Đến khoảng 09 giờ 00 cùng ngày, khi đi qua cổng nhà bà Hà Thị G, sinh năm 1966 ở thôn S, xã N, huyện H, D dựng xe mô tô trên đường, cách cổng của gia đình bà G khoảng 8,5m rồi đi bộ qua khu đất trống bên cạnh xuống khu vực ao phía sau gia đình bà G nhằm mục đích lần theo hướng một dây diều đang hạ xuống để tìm lấy diều. Khi đang tìm chiếc diều thì lúc này D nghe tiếng chó sủa ở góc sân phía trong cổng của gia đình bà G. D quan sát xung quanh thấy không có ai, cổng nhà bà G khóa phía trong nên D nảy sinh ý định trộm cắp chó. D đi theo lối bờ ao phía sau gia đình bà G để đến khu nuôi nhốt chó. Khi đến khu vực nuôi nhốt chó được quây bằng lưới thép B40 ở phía trong góc sân, phát hiện bên trong có 04 (bốn) con chó, trong đó có 03 (ba) con chó đang nhốt trong cũi và 01 (một) con chó cái màu lông đen thả bên ngoài. D dùng tay kéo lưới B40 tiếp giáp phần sân lên cao rồi chui người vào bên trong để trộm cắp chó. Sau khi đã vào được bên trong khu nuôi chó, D dùng hai tay bắt được một con chó cái lông màu đen, nặng 8,9kg. Sau đó, D ôm con chó đi ra ngoài, khi đi được khoảng 2,7m thì bị bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1967 ở thôn S, xã N đang trên đường đi chợ bán rau đi qua phát hiện. Lúc này, thấy bà B phát hiện, đồng thời bị con chó D trộm cắp cắn vào tay áo của mình nên D thả con chó và chạy ra theo lối vào trước đó ra ngoài lấy xe mô tô để tẩu thoát. Khi D vừa ra đến chỗ để xe mô tô thì bị quần chúng nhân dân bắt giữ và Công an xã N, huyện H lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Thu giữ vật chứng gồm: 01 (một) chiếc thòng lọng làm bằng 01 kim loại luồn qua ống tuýp sắt có chiều dài 42,1cm, đường kính 02cm, bên ngoài được quấn băng dính và dây chun màu đen, chiều dài dây kim loại tính từ đầu ống kim loại đến điểm cuối cùng của dây kim loại là 74 cm; 01 (một) bao tải dứa màu đỏ, miệng bao có gắn dây buộc màu xanh; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, 01 xe mô tô biển kiểm soát 98F7- 6961. Đối với con chó mà D đã trộm cắp, sau khi kiểm tra, xác định đặc điểm, khối lượng đã bàn giao cho bà G quản lý.
Cũng ngày 14/12/2023, Cơ quan điều tra tiến hành lập biên bản kiểm tra dấu vết trên thân thể đối với Thân Ba D, kết quả: Gò má bên phải có dấu vết sây sát da kích thước (4x0,3) cm; kiểm tra các bộ phận khác trên cơ thể không có dấu vết thương tích. D khai nhận vết sây sát do quá trình kéo lưới thép B40 ở khu vực nuôi nhốt chó để vào bắt chó thì bị một đầu của sợi dây thép cào vào gây nên.
Tại Kết luận định giá tài sản số 78/KL- HĐĐGTS ngày 21/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H, kết luận “Con chó, giống cái, màu lông đen có trọng lượng 8,9kg tại thời điểm tháng 12/2023 có giá: 8,9kg x 80.000 đồng/kg = 712.000 đồng (bảy trăm mười hai nghìn đồng)”.
Tại Cơ quan điều tra Thân Ba D khai nhận hành vi phạm tội như nội dung trên, phù hợp lời khai người làm chứng, lời khai bị hại và tài liệu chứng cứ khác thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Đến giai đoạn truy tố, D thay đổi lời khai không thừa nhận đã thực hiện hành vi trộm cắp chó của nhà bà G, D khai do bị Công an xã N và người dân đánh nên đã khai không đúng sự thật. Tuy nhiên, kết quả điều tra đều xác định quá trình bắt quả tang đối với Thân Ba D, thu giữ, niêm phong vật chứng, xác định hiện trường ngày 14/12/2023 đều có người làm chứng, người chứng kiến và diễn ra khách quan; không có việc người dân, cán bộ công an đe dọa, đánh đập buộc D phải thừa nhận hành vi trộm cắp.
Tại Bản cáo trạng số 31/CT-VKS-HH ngày 27/02/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Thân Ba D về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Với nội dung như trên, Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2024/HSST ngày 19/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang, đã quyết định:
- Về điều luật áp dụng: Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Thân Ba D 12 (mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 14/12/2023.
Ngoài ra, bản án còn giải quyết về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 29/3/2024, bị cáo Thân Ba D có đơn kháng cáo với nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo với mức hình phạt nêu trên là không đúng người, đúng tội; đề nghị xét xử lại và tại phiên toà không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì mới.
Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà phúc thẩm, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nội dung kháng cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Thân Ba D. Giữ nguyên mức hình phạt mà bản án sơ thẩm đã quyết định.
Án phí phúc thẩm: Đề nghị HĐXX giải quyết theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Đề nghị HĐXX xem xét áp dụng Điều 15 và Điều 57 BLHS cho bị cáo, vì bị cáo phạm tội chưa đạt.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận tranh luận gì. Lời sau cùng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo ở mức thấp nhất để bị cáo sớm được trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Xét nội dung kháng cáo của bị cáo Thân Ba D. HĐXX thấy, căn cứ vào Biên bản phạm tội quả tang; lời khai của bị hại; người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận:
Bị cáo Thân Ba D là đối tượng đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích. Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 14/12/2023, tại gia đình bà Hà Thị G, sinh năm 1966 ở thôn S, xã N, huyện H, tỉnh Bắc Giang; Thân Ba D, sinh năm 1990 ở tổ dân phố số C, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang có hành vi trộm cắp 01 (một) con chó giống cái, lông màu đen của gia đình bà G thì bị bắt quả tang. Trị giá con chó D trộm cắp là 712.000 đồng (bảy trăm mười hai nghìn đồng);
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, đã xâm phạm quyền sở hữu về tài sản được pháp luật bảo vệ, xâm phạm vào trật tự an toàn xã hội. Hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo theo tội danh và điều khoản nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật nên việc bị cáo kháng cáo cho rằng bị cáo không phạm tội trộm cắp tài sản là không có cơ sở.
[2]. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Chỉ vì muốn có tiền chi tiêu, bị cáo đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác, bị cáo là người có có tiền án, nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích, chứng tỏ bị cáo là con người coi thường pháp luật. Do vậy cần phải xử nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[3] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[4] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và xét xử tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải. Tuy nhiên, tại phiên toà phúc thẩm bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không tỏ ra ăn năn hối cải nên HĐXX không áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự như Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang đã đề nghị. Bị cáo có bố đẻ là thương binh nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đối với ý kiến của luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị HĐXX xem xét áp dụng Điều 15 và Điều 57 BLHS cho bị cáo, vì bị cáo phạm tội chưa đạt là có căn cứ nên HĐXX chấp nhận ý kiến của người bào chữa đưa ra. Tuy nhiên, do bị cáo Thân Ba D chỉ kháng cáo cho rằng bị cáo không phạm tội trộm cắp tài sản như bản án sơ thẩm đã tuyên và không thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Căn cứ vào Điều 345 BLTTHS quy định về phạm vi xét xử phúc thẩm, hành vi phạm tội của bị cáo được Bản án sơ thẩm 30/2024/HS-ST ngày 19/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa đã xét xử theo tội danh, điều khoản và mức hình phạt như trên là có căn cứ, đúng pháp luật nên việc bị cáo kháng cáo cho rằng bị cáo không phạm tội là không có cơ sở như ý kiến của Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang đã đề nghị.
[5]. Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nhưng bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên HĐXX miễn toàn bộ án phí hình sự phúc thẩm cho bị cáo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội qui định về án phí và lệ phí Toà án.
[6]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị HĐXX không đặt ra xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Thân Ba D, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- - Về điều luật áp dụng: Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự.
- - Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Thân Ba D 12 (mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 14/12/2023.
- Về nghĩa vụ chịu án phí phúc thẩm: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội qui định về án phí và lệ phí Toà án.
Miễn nộp toàn bộ tiền án phí hình sự phúc thẩm cho bị cáo Thân Ba D.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Văn Nâu |
Bản án số 113/2024/HS-PT ngày 05/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 113/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 05/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HSPT - Than Ba Duy - Trom cap tai san
