|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 113/2023/HNGĐ-ST Ngày: 06/11/2023. V/v: Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Huấn
Các hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Thị Hằng;
Bà Thạch Thị Lan Nhung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đàm Thị Thu Duy – Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tham
gia phiên tòa: Bà Trần Duy Hoàng Thao - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 315/2023/TLST-HNGĐ ngày 02/10/2023 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 115/2023/QĐXXST – HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Bùi Thị B, sinh năm: 1976; địa chỉ: Thôn R, xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
Bị đơn: Ông Bùi Quang H, sinh năm: 1977; địa chỉ: Thôn R, xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
(bà B và ông H có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện nguyên đơn bà Bùi Thị B trình bày: Bà và ông Bùi Quang H xây dựng gia đình với nhau vào năm 1998, trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục. Đến năm 2006 mới đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 18/10/2006. Trong thời gian chung sống vợ chồng thường xảy ra cãi vã. Nguyên nhân là do ông H không lo làm ăn, không có trách nhiệm gì với gia đình. Bà góp ý nhưng ông H không nghe, nhiều lần ông H vướng vào vòng pháp luật phải đi cải tạo thời gian tương đối dài. Sau khi trở về ông ấy không thay đổi. Một mình bà vừa lo nuôi dạy con vừa lo kinh tế gia đình. Có lần bà phải bán đất đai nhà cửa để trả nợ thay cho ông H nhưng vẫn bị ông H đánh đập. Từ năm 2020 đến nay, mâu thuẫn vợ chồng thực sự trầm trọng, cuộc sống chung không có hạnh phúc. Năm 2022 bà đã gửi đơn đến Tòa đề nghị giải quyết cho ly hôn nhưng được Tòa động viên nên bà rút đơn về để cho ông H cơ hội sửa chữa. Tuy nhiên, sau khi bà rút đơn, ông H không thay đổi, không có trách nhiệm với gia đình mà mâu thuẫn vợ chồng ngày càng căng thẳng hơn và vợ chồng đã sống ly thân gần một năm nay. Nay bà xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, bà không còn tình cảm với ông H nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông H.
Về con chung: Vợ chồng bà có 4 con chung là Bùi Thị Hải Y sinh ngày 14/12/1999, Bùi Hải Y Vi sinh ngày 10/12/2006, Bùi Hải Yến N sinh ngày 07/6/2008 và Bùi Quang H1 sinh ngày 01/5/2011. Hiện nay con chung là cháu Y đã trưởng thành và đã có gia đình riêng nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết. Còn đối với các con chung là cháu V, N, H1 bà yêu cầu Tòa án giải quyết theo nguyện vọng của các con, bà không yêu cầu giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà B khẳng định giữa bà và ông H không có tài sản chung và không có nợ chung nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo bản tự khai của bị đơn ông Bùi Quang H trình bày: Ông xây dựng gia đình với bà B vào năm 1998, trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L. Quá trình chung sống vợ chồng sống hòa thuận đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bà B ngoại tình rồi lạnh nhạt với ông, dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau mặc dù đã được gia đình hòa giải nhưng không thành. Nay bà B xin ly hôn với ông thì ông xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, ông không còn tình cảm với bà B nên ông đồng ý ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng ông có 4 con chung là Bùi Thị Hải Y sinh ngày 14/12/1999, Bùi Hải Y Vi sinh ngày 10/12/2006, Bùi Hải Yến N sinh ngày 07/6/2008 và Bùi Quang H1 sinh ngày 01/5/2011. Hiện nay con chung là cháu Y đã trưởng thành và đã có gia đình riêng nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết. Còn đối với con chung là cháu V, N, H1 ông yêu cầu Tòa án giải quyết theo nguyện vọng của các con, ông không yêu cầu giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Vợ chồng ông tự thỏa thuận, ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Ông xác định vợ chồng không có nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Vụ án đã được Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không được do vắng mặt bị đơn.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng cũng như phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án theo hướng đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu của bà Bùi Thị B về việc xin ly hôn với ông Bùi Quang H; về con chung: Đề nghị giao cả 03 con chung là Bùi Hải Y Vi sinh ngày 10/12/2006, Bùi Hải Y Nhi sinh ngày 07/6/2008 và Bùi Quang H1 sinh ngày 01/5/2011 cho bà Bùi Thị B có trách nhiệm trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục theo nguyện vọng của các con; về tài sản chung và nợ chung các đương sự xác định không có nên không đặt ra xem xét.
Về án phí: Buộc bà Bùi Thị B phải chịu án phí sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận cũng như ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà B và bị đơn ông H vắng mặt tại phiên tòa và đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn xét xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung là phù hợp.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị B và ông Bùi Quang H xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 18/10/2006 nên quan hệ hôn nhân của ông bà là hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến khoảng năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Xét thấy, nguyên nhân mâu thuẫn giữa bà B và ông H là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, hơn nữa, ông H cũng không tin tưởng bà B trong quan hệ tình cảm nên thường xảy ra bất hòa, cãi nhau và có xô xát. Năm 2022, bà B đã gửi đơn đến Tòa đề nghị giải quyết cho ly hôn với ông H nhưng được Tòa động viên nên bà B đã rút đơn. Tuy nhiên, sau khi bà B rút đơn ly hôn thì tình cảm vợ chồng vẫn không cải thiện được mà mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn và vợ chồng đã sống ly thân gần một năm nay; trong thời gian sống ly thân thì vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Nay, bà B xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được và bà không còn tình cảm với ông H nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn. Ông H cũng xác định không còn tình cảm nên ông đồng ý ly hôn với bà B. Do vậy, nếu cứ kéo dài tình trạng hôn nhân như hiện tại cũng không mang lại hạnh phúc cho các bên đương sự. Vì vậy, căn cứ Điều 53 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, cần chấp nhận đơn ly hôn của bà B, xử cho bà B và ông H được ly hôn là phù hợp.
[3] Về con chung: Vợ chồng bà B, ông H có 4 con chung là Bùi Thị Hải Y sinh ngày 14/12/1999, Bùi Hải Y Vi sinh ngày 10/12/2006, Bùi Hải Yến N sinh ngày 07/6/2008 và Bùi Quang H1 sinh ngày 01/5/2011. Hiện nay con chung là cháu Y đã trưởng thành và đã có gia đình riêng các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét. Còn đối với các con chung là cháu V, N, H1 cả bà B và ông H xác định khi ly hôn yêu cầu giải quyết theo nguyện vọng của các con. Xét thấy, từ khi vợ chồng sống ly thân cho đến nay thì các cháu V, N, H1 đều do bà B trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục và các cháu đều có nguyện vọng được ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn. Do đó, cần giao các con chung là cháu Bùi Hải Yến V1, Bùi Hải Y N và Bùi Quang H1 cho bà B có trách nhiệm trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục theo nguyện vọng của các con là phù hợp. Về việc cấp dưỡng nuôi con do bà B không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết.
[4] Về tài sản chung: Bà B xác định không có, ông H xác định vợ chồng tự thỏa thuận. Các đương sự đều xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.
[5] Về nợ chung: Bà B và ông H xác định trong quá trình chung sống vợ chồng không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.
[6] Về án phí: Buộc bà Bùi Thị B phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 53, khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 147; Điều 203; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Bùi Thị B, xử cho bà Bùi Thị B và ông Bùi Quang H được ly hôn.
- Về con chung: Giao cả 03 con chung là Bùi Hải Y Vi sinh ngày 10/12/2006, Bùi Hải Y Nhi sinh ngày 07/6/2008 và Bùi Quang H1 sinh ngày 01/5/2011 cho bà Bùi Thị B có trách nhiệm trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; ông Bùi Quang H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
- Về án phí: Bà Bùi Thị B phải chịu 300.000đ án phí sơ thẩm về việc ly hôn. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu tiền số 0000081 ngày 02 tháng 10 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà. Bà Bùi Thị B đã nộp đủ án phí.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Huấn |
Bản án số 113/2023/HNGĐ-ST ngày 06/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG về ly hôn
- Số bản án: 113/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/11/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bảy Hiên ly hôn
