Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 113/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 06-12-2023

V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

chung khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ái Duy

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đinh Ngọc Dình
  2. Ông Đinh Ngọc Minh

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Quê, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tỉnh Long An.

Ngày 06 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 236/2023/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 133/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Yến L, sinh năm 1999. Địa chỉ: Số G, ấp C, xã A, huyện C, tỉnh Long An.

Chỗ ở hiện nay: Tổ H, ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long, có mặt.

- Bị đơn: Ông Lê Văn H, sinh năm 1996. Địa chỉ: Số G, ấp C, xã A, huyện C, tỉnh Long An, văng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 02 tháng 8 năm 2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Yến L trình bày:

Bà và ông Lê Văn H chung sống với nhau vào năm 2018 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh Long An vào ngày 18/4/2019.

Sau ngày cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian khoảng 05 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã nhau nên cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc và hiện vợ chồng đã không còn chung sống với nhau từ tháng 8/2023 đến nay. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được nên bà xin được ly hôn với ông Lê Văn H.

Về nuôi con chung: Bà và ông H có với nhau một người con chung tên là Lê Nguyễn Như Ý, sinh ngày 12/7/2019, hiện con chung đang sống cùng bà. Khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung, bà yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung định kỳ hàng tháng, mỗi tháng 3.000.000 đồng, tại phiên tòa bà yêu cầu ông H cấp dưỡng với mức cấp dưỡng 2.000.000 đồng, thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 01/2024, cấp dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà cam kết không có nợ chung.

Ông Lê Văn H là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên không có lời trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị Yến L có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Lê Văn H, việc tranh chấp được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Ông H cư trú tại huyện C, tỉnh Long An nên Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An thụ lý giải quyết là đúng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục xét xử vắng mặt bị đơn: Ông H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông H.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Yến L và ông Lê Văn H tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh Long An vào ngày 18/4/2019 nên quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông H là hôn nhân hợp pháp.

Qua lời trình bày của bà L, quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã nhau nên cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc và đã không còn chung sống với nhau từ tháng 8/2023. Ông H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt và không có ý kiến gì về yêu cầu ly hôn của bà L, thể hiện việc ông H không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông H đã phát sinh mâu thuẫn, nhưng hai đương sự không có thiện chí hàn gắn lại, đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Bà L yêu cầu ly hôn với ông H là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L.

[3] Về nuôi con chung: Bà L và ông H có với nhau một người con chung tên Lê Nguyễn Như Ý, sinh ngày 12/7/2019.

Xét thấy, hiện nay con chung đang sống cùng bà L, để không ảnh hưởng đến cuộc sống, học tập và đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chung nên cần giao con chung cho bà L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Để đảm bảo nhu cầu thiết yếu của con chung, cho trẻ phát triển lành mạnh, hài hòa về thể chất và tinh thần, đảm bảo điều kiện được nuôi dưỡng và học tập. Do đó, cần buộc ông H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng, mỗi tháng 2.000.000 đồng, cấp dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình

[4] Về chia tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[5] Về án phí: Nguyên đơn bà L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, ông H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Yến L và ông Lê Văn H.

2. Về nuôi con chung: Giao con chung tên Lê Nguyễn Như Ý, sinh ngày 12/7/2019 cho bà Nguyễn Thị Yến L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Ông Lê Văn H phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung định kỳ hàng tháng, mỗi tháng 2.000.000 đồng, cấp dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 01/2024.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con chung, các đương sự được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc thay đổi cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Yến L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003670 ngày 29 tháng 9 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Long An.

Ông Lê Văn H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo bản án 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

5. Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh LA;
  • - VKSND huyện;
  • - Chi cục THA dân sự huyện;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã A, huyện C, tỉnh L;
  • - Lưu (hồ sơ, án văn).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thị Ái Duy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 113/2023/HNGĐ-ST ngày 06/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tỉnh Long An về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn

  • Số bản án: 113/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tỉnh Long An
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Yến L- Lê Văn H "Ly hôn"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger