TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 113/2024/HNGĐ-ST Ngày: 06 - 9 - 2024. Về việc tranh chấp: “Ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Duyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Quang Vinh.
Ông Nguyễn Tường Bích.
- Thư ký phiên Tòa: Bà Trần Thị Thảo Nguyên – là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 116/2024/TLST - HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 199/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên Tòa số 162/2024/QĐST- HNGĐ ngày 20 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Trọng D, sinh ngày 28/6/1993 (Có mặt)
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện D, tỉnh Bến Tre.
- Bị đơn: Chị Huỳnh Thị Trúc D, sinh ngày 22/4/1993 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện D, tỉnh Bến Tre.
Hiện ở: Ấp L, xã P, huyện D, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn xin ly hôn đề ngày 11/01/2024, bản tự khai ngày 04/4/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Nguyễn Trọng D trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh D và chị D tự quen biết tìm hiểu nhau được 07 năm, sau đó hai bên tự nguyện tiến tới hôn nhân trên tinh thần tự nguyện, cưới nhau năm 2016 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thạnh Trị vào năm 2016. Thời gian đầu sống chung có hạnh phúc nhưng đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng cự cãi, bất đồng ý kiến, không cùng quan điểm sống, chị D tự ý làm mọi việc mà không thông qua ý kiến chồng, không quan tâm đến tình cảm vợ chồng, không chăm lo cho con cái, sau đó chị D bỏ về nhà cha mẹ ruột sống tại ấp Tân Long, xã Thạnh Phước, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre và đã ly thân từ tháng 11/2022 cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên anh yêu cầu ly hôn với chị D.
- Về nuôi con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Huỳnh Bảo N, sinh ngày 24/8/2019, hiện đang sống với anh. Khi ly hôn anh Nguyễn Trọng D yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu cấp dưỡng.
- Về tài sản chung: Không có.
- Về nợ chung: Không có.
* Đối với chị Huỳnh Thị Trúc D là bị đơn, trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án, đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng chị đều vắng mặt, mặc dù chị vẫn còn sinh sống tại địa phương, nên không thu thập được lời khai của chị.
* Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre tham gia phiên Tòa phát biểu ý kiến:
- Về tuân theo pháp luật tố tụng:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ tuân theo đúng quy định của pháp luật. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên Tòa là không thực hiện theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung:
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh D đối với chị D. Về con chung: Đề nghị giao cháu Nguyễn Huỳnh Bảo N, sinh ngày 24/8/2019 cho anh D nuôi dưỡng. Ghi nhận anh D không yêu cầu chị D cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên Tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
[1]. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Huỳnh Thị Trúc D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để xét xử, nhưng chị vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt chị D là phù hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung:
[2]. Về quan hệ hôn nhân: Anh D và chị D cưới nhau vào năm 2016 trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thạnh Trị vào năm 2016 theo đúng quy định của pháp luật, nên quan hệ hôn nhân giữa anh D và chị D được công nhận hợp pháp.
Nay anh D yêu cầu ly hôn, chị D vắng mặt nên không có lời khai. Hội đồng xét xử xét thấy: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trong đó có biên bản xác minh tại chính quyền địa phương cũng như lời khai của anh D trong quá trình giải quyết vụ án, đều xác định được cuộc sống vợ chồng của anh chị đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng cự cãi, bất đồng ý kiến, không cùng quan điểm sống, chị D tự ý làm mọi việc mà không thông qua ý kiến anh, không quan tâm đến tình cảm vợ chồng, không chăm lo cho con cái, sau đó chị D bỏ về nhà cha mẹ ruột sống tại ấp Tân Long, xã Thạnh Phước, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre và đã ly thân từ tháng 11/2022 cho đến nay.
Hơn nữa, Toà án đã tiến hành mời anh D và chị D để hoà giải, nhằm cho các bên có cơ hội hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng chị D vẫn vắng mặt không lý do, cho thấy chị D đã không còn quan tâm đến cuộc hôn nhân này.
Qua đó, có cơ sở để Hội đồng xét xử xác định giữa anh D và chị D đã không còn quan tâm, chăm sóc đến cuộc sống của nhau, cùng nhau chia sẽ thực hiện các công việc trong gia đình. Điều đó, chứng tỏ hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của anh D là có căn cứ và phù hợp theo quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3]. Về nuôi con chung: Trong quá trình sống chung giữa anh D và chị D có 01 con chung tên Nguyễn Huỳnh Bảo N, sinh ngày 24/8/2019, hiện đang sống với anh D. Khi ly hôn anh yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Hội đồng xét xử xét thấy: Xuất phát từ lợi ích mọi mặt của cháu Ngọc, xét thấy từ trước đến nay cháu Ngọc đều do anh D trực tiếp nuôi dưỡng, việc anh nuôi con chung vẫn phát triển bình thường. Anh D cũng có nguyện vọng được nuôi con, nên để nhằm ổn định về tinh thần con chung của anh và chị, cần để cháu Ngọc cho anh D nuôi dưỡng cũng là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nuôi con chung của anh D.
[4]. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh D nuôi con chung nhưng không yêu cầu chị D cấp dưỡng nuôi con, nên được Hội đồng xét xử ghi nhận và không xét đến.
[5]. Về tài sản chung: Anh D khai không có, nên Hội đồng xét xử không xét đến.
[6]. Về nợ chung: Anh D khai không có, nên Hội đồng xét xử không xét đến.
[7]. Đối với lời trình bày của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại về quan điểm giải quyết vụ án: Phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[8]. Về án phí hôn nhân sơ thẩm:
Căn cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Anh Nguyễn Trọng D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84, 119 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Trọng D đối với chị Huỳnh Thị Trúc D.
Cho ly hôn giữa anh Nguyễn Trọng D và chị Huỳnh Thị Trúc D.
Quan hệ hôn nhân giữa anh Nguyễn Trọng D và chị Huỳnh Thị Trúc D chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
- Về nuôi con chung:
- Giao con chung Nguyễn Huỳnh Bảo N, sinh ngày 24/8/2019 cho anh Nguyễn Trọng D trực tiếp nuôi dưỡng.
- Ghi nhận sự tự nguyện anh Nguyễn Trọng D nuôi con chung không yêu cầu chị Huỳnh Thị Trúc D cấp dưỡng nuôi con.
Chị Huỳnh Thị Trúc D không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Anh Nguyễn Trọng D trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở chị Huỳnh Thị Trúc D trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84, Điều 119 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và quyết định việc thay đổi yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Anh Nguyễn Trọng D khai không có, nên không xét đến.
- Về nợ chung: Anh Nguyễn Trọng D khai không có, nên không xét đến.
- Về án phí hôn nhân sơ thẩm:
Anh Nguyễn Trọng D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh D đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0003451 ngày 08 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Như vậy, anh Nguyễn Trọng D đã nộp đủ án phí.
Anh Nguyễn Trọng D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với chị Huỳnh Thị Trúc D vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Thị Mỹ Duyên |
Bản án số 113/2024/HNGĐ-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE về ly hôn
- Số bản án: 113/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh Duy yêu cầu ly hôn với chị D. - Về nuôi con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Huỳnh Bảo N, sinh ngày 24/8/2019, hiện đang sống với anh. Khi ly hôn anh Nguyễn Trọng D yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu cấp dưỡng. - Về tài sản chung: Không có. - Về nợ chung: Không có.
