|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 113/2024/HS-ST Ngày 06 - 6 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Hoa
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thị Ngọc Hà
- Bà Lê Thị Kim Liễu
- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Quốc Thái - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Đức Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2024, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 8, Tòa án nhân dân Quận 8 xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 120/2024/TLST-HS ngày 06/5/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 193/2024/QĐXXST-HS ngày 22/5/2024, đối với bị cáo:
Huỳnh Thanh P; giới tính: Nam; sinh ngày 01/01/1998, tại Bạc Liêu; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp H, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu; chỗ ở: Không có nơi cư trú ổn định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 1/12; nghề nghiệp: Không; con ông Huỳnh Thanh T và bà Triệu Thúy T1; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 16/8/2016, Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 26/8/2020, chấp hành xong toàn bộ bản án.
Bị bắt, tạm giam từ ngày 19/12/2023 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Nguyễn Minh P1, sinh năm 1970; địa chỉ: B N, Phường F, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh; tạm trú: Ấp C, xã L, huyện C, tỉnh Long An. (vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị Thu V, sinh năm 1979; địa chỉ thường trú: B L, Phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: A M, Phường 1, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh – Chủ Doanh nghiệp tư nhân K. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 11 giờ ngày 15/12/2023, Huỳnh Thanh P mặc áo khoác và đội nón bảo hiểm xe ôm công nghệ Gojek màu xanh đen, điều khiển xe mô tô hiệu Honda Sonic, biển số: 50X1 – 162.05 đi từ Đ liệt sĩ trên đường T, Phường G, Quận H hướng về cầu B, Phường G, Quận H, khi đến trước số A T, Phường G Quận H, P phát hiện ông Nguyễn Minh P1 đang đứng sát lề đường trước số A T, Phường G, Quận H, trên cổ ông P có đeo 01 sợi dây chuyền kim loại màu vàng cùng mặt đá xanh. Phục nảy sinh ý định cướp giật sợi dây chuyền của ông P đem bán lấy tiền tiêu xài. Thực hiện ý định trên, P điều khiển xe mô tô áp sát từ phía sau lưng bên phải ông P rồi dùng tay trái giật sợi dây chuyền của ông P1 và tăng ga hướng ra đường N, huyện B tẩu thoát. Sợi dây chuyền chiếm đoạt được, P để vào cái lon phía bên trái gần kính chiếu hậu của xe.
Do sợ bị phát hiện nên P chạy xe gắn máy về phòng trọ nhà không số đối diện số D C, Phường D, Quận H thay áo khoác công nghệ G và lấy áo khoác màu cam mặc vào. Sau đó, P cất sợi dây chuyền trong túi quần và đi bộ ra khỏi phòng trọ để đón xe ôm chở đi tìm chỗ bán sợi dây chuyền. Lúc này, P gặp Đ (chưa rõ lai lịch) ở gần bến xe Q nên P hỏi mượn xe mô tô hiệu Wave (không rõ biển số) của Đại để đi công việc. Đại đồng ý và giao xe cho P, P điều khiển xe của Đ đến tiệm V2, địa chỉ: A M, Phường 1, Quận F và bán sợi dây chuyền cho bà Nguyễn Thị Thu V (chủ cửa hàng) được số tiền 16.320.000 đồng. Trên đường về, P đã ném bỏ chiếc áo khoác màu cam (không rõ địa điểm) rồi điều khiển xe đến gần bến xe Q trả xe cho Đ và đón xe ôm về phòng trọ. Số tiền có được, P mua ma túy sử dụng và tiêu xài cá nhân hết. Khi bán sợi dây chuyền vàng, P giả vờ nói với bà V rằng đã làm mất giấy mua vàng, dây chuyền bị vướng cái áo giãn móc khóa nên bị đứt, bà V không biết đó là tài sản do phạm tội mà có nên đồng ý mua.
Đến ngày 16/12/2023, P điều khiển xe mô tô biển số: 50X1-162.05 lưu thông trên đường thì bị Công an Q và Công an Thành phố H phát hiện đưa về làm việc.
Tại Cơ quan điều tra, P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Ngày 22/01/2024, Công ty V3 có kết quả thử nghiệm đối với sợi dây chuyền trên, xác định hàm lượng vàng (A) là 61,66%.
Ngày 05/3/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Quận H có kết luận định giá số 24/KL-HĐĐGTS, xác định 01 sợi dây chuyền kim loại vàng, dài 54cm, khối lượng 19,093 gram, hàm lượng vàng (A) 61,66% có giá trị 19.036.600 đồng (Mười chín triệu không trăm ba mươi sáu ngàn sáu trăm đồng). Đối với mặt dây chuyền màu xanh, do không thu hồi được vật chứng, bị hại không cung cấp được hóa đơn nên không có cơ sở định giá.
Vật chứng tạm giữ trong vụ án:
- - 01 xe mô tô biển số 50X1–162.05, số khung: MH1KB1118LK260113, số máy: KB11E-1259753, qua xác minh do anh Nìm Chí V1 đứng tên sở hữu. Ngày 11/9/2023, anh V1 đã bán xe trên cho Huỳnh Thanh P và có làm hợp đồng công chứng Uỷ quyền tại Văn phòng C, địa chỉ: 1 Đường C, Phường B, Quận A.
- - 01 áo dài tay màu xanh đen có chữ Gojek và 01 nón bảo hiểm màu xanh đen có chữ Gojek; 01 quần dài màu xám; 01 đôi dép nhựa màu đen, sọc trắng và 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A51 tạm giữ của Huỳnh Thanh P.
2
- - 01 sợi dây chuyền kim loại màu vàng (do bà V giao nộp);
- - 02 USB màu trắng bạc lưu giữ các hình ảnh liên quan vụ án.
Về trách nhiệm dân sự:
- - Ngày 09/4/2024, Cơ quan điều tra đã Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bị hại P1 sợi dây chuyền. Ông P1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường thiệt hại.
- - Bà Nguyễn Thị Thu V tự nguyện giao nộp lại sợi dây chuyền cho Công an Q xử lý và không yêu cầu P hoàn trả số tiền 16.320.000 đồng là tiền mua dây chuyền từ bị cáo.
Tại bản Cáo trạng số 124/CT-VKS-Q8 ngày 04/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 đã truy tố bị cáo về tội “Cướp giật tài sản” theo Điểm d Khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố;
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng d Khoản 2 Điều 171; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo từ 05 năm đến 06 năm tù.
Về xử lý vật chứng:
- - Đề nghị tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước: 01 xe mô tô biển số 50X1–162.05, số khung: MH1KB1118LK260113, số máy: KB11E-1259753.
- - Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 áo dài tay màu xanh đen có chữ Gojek, 01 nón bảo hiểm màu xanh đen có chữ Gojek; 01 quần dài, màu xám; 01 đôi dép nhựa màu đen sọc trắng.
- - Đề nghị trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu S A51
Bị cáo khai báo về hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã được tóm tắt như trên, không tự bào chữa, không tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, các đương sự không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
3
[2] Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Kết luận định giá số 24/KL-HĐĐGTS ngày 05/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận H, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, có đủ cơ sở để kết luận:
Ngày 15/12/2023, tại trước số A T, Phường G, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Huỳnh Thanh P có hành vi sử dụng xe mô tô công khai, áp sát, nhanh chóng chiếm đoạt tài sản là 01 sợi dây chuyền bằng vàng có trị giá 19.036.600 đồng của anh Nguyễn Minh P1.
Bị cáo là người trưởng thành, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vì để thỏa mãn nhu cầu cá nhân mà bị cáo vẫn cố ý thực hiện.
Do vậy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản” thuộc trường hợp “dùng thủ đoạn nguy hiểm”, là tình tiết định khung hình phạt quy định tại Điểm d Khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm vì không chỉ đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, mà còn có thể gây nguy hiểm đến sức khỏe, tính mạng của chủ sở hữu, người dân lưu thông trên đường, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an xã hội. Cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ sức giáo dục, răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.
[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản chiếm đoạt đã thu hồi trả lại cho bị hại. Do vậy, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân xấu, từng bị kết án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, đây là tình tiết xem xét để quyết định mức hình phạt phù hợp với nhân thân của bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
- - Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại, vắng mặt tại phiên tòa, nên không xét.
- - Bà Nguyễn Thị Thu V không yêu cầu bị cáo hoàn trả số tiền mua sợi dây chuyền, vắng mặt tại phiên tòa, nên không xét.
[6] Xử lý vật chứng:
01 xe mô tô nhãn hiệu: Honda; biển số 50X1–162.05, số khung: MH1KB1118LK260113, số máy: KB11E-1259753; số loại: Sonic; loại xe: 02 bánh từ 50-175cm3; màu sơn: Trắng Đỏ Đen; dung tích xi lanh: 149,16cm3; năm sản xuất: 2020; số chỗ ngồi: 02; Qua điều tra xác định, xe do bị cáo mua từ anh Nìm Chí V1 vào ngày 11/9/2023, rồi sử dụng làm phương tiện phạm tội. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.
01 áo dài tay màu xanh đen có chữ Gojek, 01 nón bảo hiểm màu xanh đen có chữ Gojek; 01 quần dài, màu xám; 01 đôi dép nhựa màu đen, sọc ngang, là trang phục
4
bị cáo sử dụng đi thực hiện hành vi phạm tội, xét không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy.
- - 01 điện thoại di động hiệu S A51 tạm giữ Huỳnh Thanh P, không liên quan đến vụ án, nên trả lại cho bị cáo.
- - 01 sợi dây chuyền kim loại màu vàng (do bà V giao nộp), Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã trả lại cho bị hại là có căn cứ, nên không xét.
- - 02 USB màu trắng bạc lưu giữ các hình ảnh liên quan vụ án, là chứng cứ vụ án, nên tiếp tục lưu giữ vào trong hồ sơ vụ án.
[7] Đối với người tên Đ cho bị cáo P mượn xe mô tô để đi bán vàng, qua điều tra không xác định được lai lịch, P khai không nói cho Đ biết việc mượn xe đi tiêu thụ tài sản phạm pháp nên không có căn cứ để xử lý đối với Đ.
[8] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điểm d Khoản 2 Điều 171; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Thanh P 05 (năm) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”.
Thời hạn tù tính từ ngày 19/12/2023.
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu: Honda; biển số 50X1–162.05, số khung: MH1KB1118LK260113, số máy: KB11E-1259753; số loại: Sonic; loại xe: 02 bánh từ 50-175cm3; màu sơn: Trắng Đỏ Đen; dung tích xi lanh: 149,16cm3; năm sản xuất: 2020; số chỗ ngồi: 02.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 nón bảo hiểm màu xanh đen có chữ Gojek; 01 áo khoác màu xanh đen có chữ Gojek; 01 quần dài màu xám; 01 đôi dép màu đen, quai đen sọc trắng hiệu T.
- Trả lại cho bị cáo Huỳnh Thanh P: 01 điện thoại di động hiệu S A51, imei: 351919550052290.
(Biên bản giao, nhận tang tài vật ngày 04/6/2024)
- Về án phí: Căn cứ vào các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Huỳnh Thanh P phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.
- Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, bị cáo, các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Các đương sự vắng mặt tại phiên
tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Như Hoa |
6
Bản án số 113/2024/HS-ST ngày 06/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cướp giật tài sản
- Số bản án: 113/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Thanh P 05 năm tù
