Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHỔ YÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 113/2024/HS-ST

Ngày: 05/8/2024

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Minh Quang

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hồng Hải

2. Bà Nguyễn Thị Thanh

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Anh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Dương Văn Thuận - Kiểm sát viên.

Từ ngày 30/7/2024 đến ngày 05/8/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 74/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Văn M; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 2005 tại tỉnh Thái Nguyên; Giới tính: Nam.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: xóm T, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không. Bố là Trần Văn Q; Mẹ là Tạ Thị T; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt)

- Bị hại: Bà Hứa Thị M1 (đã chết).

Người đại diện hợp pháp cho bị hại: Anh Nguyễn Thanh H, sinh năm 1994; Địa chỉ: TDP Đ, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1974; Địa chỉ: Xóm H, xã L, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt)

2. Bà Trần Thị L, sinh năm 1976; Địa chỉ: TDP Đ, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt)

3. Chị Nguyễn Thị T1; sinh năm 1983; Địa chỉ: Thôn S, xã N, huyện H, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt)

4. Ông Lương Văn T2, sinh năm 1979; Địa chỉ: Xóm T, xã K, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt)

5. Anh Trần Văn Q, sinh năm 1983; Địa chỉ: Xóm T, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt)

- Người làm chứng:

1. Bà Nguyễn Thị M2, sinh năm 1954; Địa chỉ: TDP D, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên (Vắng mặt)

2. Bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1967; Địa chỉ: TDP F, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 05 giờ 45 phút ngày 13/8/2023, Trần Văn M (không có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe mô tô gắn biển kiểm soát 98D1-789.10 đi trên đường Q theo hướng Thái Nguyên - Hà Nội. Khi đi đến khu vực nút giao ngã tư có lắp đặt hệ thống đèn tín hiệu giao thông đường bộ tại K thuộc tổ dân phố E, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên lúc này đèn tín hiệu đang là đèn đỏ theo hướng đi của M. M không chấp hành tín hiệu đèn giao thông (dừng xe) mà tăng ga đi thẳng nên đã đâm va vào xe mô tô biển kiểm soát 20B2-022.93 do bà Hứa Thị M1 (sinh năm 1975, trú tại tổ dân phố Đ, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên) điều khiển đang đi qua nút giao theo hướng đường T sang đường L theo tín hiệu đèn giao thông “đèn xanh”. Hậu quả: bà M1 bị thương tích nặng được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Q1, thành phố P ngay sau đó được chuyển đến Bệnh viện V, thành phố Hà Nội. Do thương tích nặng gia đình xin chuyển về Bệnh viện Đ tiếp tục điều trị đến ngày 28/8/2023 bà M1 tử vong; M bị thương tích nhẹ không đi viện điều trị; 02 xe mô tô liên quan bị hư hỏng.

Ngay sau khi xảy ra vụ tai nạn, Phòng C Công an tỉnh T đã tiến hành khám nghiệm hiện trường và tiếp nhận thụ lý giải quyết, đến ngày 24/8/2023 mới chuyển nguồn tin tội phạm cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P để giải quyết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã tiến hành khám nghiệm xác định hiện trường, khám nghiệm các phương tiện liên quan, lấy lời khai của những người làm chứng. Đến ngày 28/8/2023, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám nghiệm tử thi và trưng cầu giám định nguyên nhân chết của bà Hứa Thị M1 theo quy định và ra yêu cầu định giá thiệt hại tài sản 02 chiếc xe mô tô liên quan.

Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định:

Hiện trường nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường thuộc Km 43 đường Q, mặt đường thẳng, phẳng, rộng 11m. Vị trí này là khu vực ngã tư có đèn tín hiệu giao thông và vẫn hoạt động bình thường. Chọn mép đường phải hướng Thái Nguyên – Hà Nội là mép đường chuẩn. Chọn cột điện số 4.15 TBA Nam Thái (nằm phía lề phải đường) là mốc cố định. Ký hiệu (1) trên sơ đồ là vết cày trượt mặt đường nhựa có chiều hướng Thái Nguyên – Hà Nội có kích thước (1,2x0,01) mét. Do điểm đầu vết (1) vào mép đường chuẩn được 4,8 mét. Điểm cuối vết (1) trùng với vị trí để chân bên trái người điều khiển của xe (2). Ký hiệu (2) trên sơ đồ là xe mô tô biển kiểm soát 20B2-02293 nằm đổ nghiêng bên trái trên mặt đường, đầu xe quay hướng Hà Nội, đuôi xe quay hướng Thái Nguyên. Đo tâm trục bánh trước và tâm trục bánh sau xe (2) vào mép đường chuẩn được lần lượt là 5,6 mét và 5,2 mét. Ký hiệu (3) trên sơ đồ là vết cà trượt mặt đường nhựa có kích thước (2,6x0,01) mét, có chiều hướng Thái Nguyên – Hà Nội. Đo từ điểm đầu và điểm cuối vết (3) đến mép đường chuẩn được lần lượt là 3,3 mét và 3,1 mét. Ký hiệu (4) trên sơ đồ là xe mô tô biển kiểm soát 98D1-789.10 nằm đổ nghiêng bên trái trên mặt đường, đầu xe quay hướng Thái Nguyên, đuôi xe quay hướng Hà Nội. Đo tâm trục bánh trước và tâm trục bánh sau xe (4) vào mép đường chuẩn được lần lượt là 2,6 mét và 2,2 mét. Đo từ tâm bánh trước xe (4) đến tâm bánh trước xe (2) được 7,7 mét. Đo từ cột mốc cố định đến tâm trục bánh trước xe (4) được 1,2 mét.

Kết quả khám nghiệm phương tiện liên quan:

  • - Xe mô tô biển kiểm soát 98D1-789.10: Vành trước bị ngoại lực tác động làm cong vênh, biến dạng (vành đã được tháo ra khỏi xe); Bánh trước không có hơi, bánh sau còn hơi; Bung bật khớp nối ốp nhựa đầu xe; Mất ốp mặt nạ; Bung bật khớp nối ốp nhựa thân xe; Chắn bùn phía trước bị rách vỡ trong diện (30 x 33) cm; Càng trước bị ngoại lực tác động theo chiều từ trước về sau làm cong về sau; Để chân trước bên trái bị ngoại lực tác động làm cong vênh lệch so với vị trí ban đầu 8 cm; Tay xách phía sau có dấu vết mài trượt xước kim loại trong vùng kích thước (20 x 1)cm; Bung bật chân ốc bên trái cố định biển số; Xe không có gương, không có cánh yếm, không có cần số; Kỹ thuật phương tiện: Không kiểm tra được.
  • - Xe mô tô biển kiểm soát 20B2–022.93: Cánh yếm bên trái bị vỡ trong vùng kích thước (30 x 15)cm; Mặt nạ bị bung bật khỏi khớp nối; Mất ốp cao su để chân trước bên trái, để chân này bị ngoại lực tác động làm cong vênh lệch so với vị trí ban đầu 4cm; Càng sau bên trái và hộp xích bị ngoại lực tác động theo chiều từ ngoài vào trong làm cong, bẹp lõm; Ốp nhựa sườn xe bị rách vỡ trong diện kích thước (15 x 3)cm; T3 kim loại cố định để chân bên trái có dấu vết mài trượt xước kim loại trong diện kích thước (4x2)cm, bám dính vật chất màu đen; Đuôi xe bị rách vỡ; Kỹ thuật phương tiện: hệ thống, phanh, đèn, còi, xi nhan... hoạt động bình thường.

Kết quả khám nghiệm tử thi bà Hứa Thị M1:

Vùng trán đỉnh có vết mổ cấp cứu dài 31cm được khâu bằng 34 mũi chỉ; Vùng trán trái cách trên cung lông mày trái 4,5cm có vết xây xát da kích thước (1x0,5)cm đã đóng vảy; Vùng trán có các vết tím rải rác; Vùng ngực có các vết bầm tím rải rác; Đầu gối trái bầm tím trong diện kích thước (9x4,5)cm; Mặt sau cẳng chân phải bầm tím kích thước (8x5)cm. Mổ tử thi: Khuyết xương trán kích thước (17x8)cm; Vỡ xương trán; Tổ chức não thùy trán bị đụng dập, còn ít máu tụ; Tổ chức não phù nề. Tại bản kết luận giám định tử thi số 1202/KL-GĐTT-KTHS ngày 16/10/2023 của Phòng K-Công an tỉnh T kết luận: Bà Hứa Thị M1 bị chấn thương sọ não; vỡ xương trán, đụng dập nhu mô não, phù não lan tỏa, tổn thương thần kinh trung ương không hồi phục dẫn đến chết.

Kết quả định giá tài sản:

Tại bản kết luận định giá số 113/KLĐG ngày 23/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản thành phố P kết luận: Giá trị thiệt hại của xe mô tô hai bánh nhãn hiệu WAVE, biển kiểm soát 98D1-789.10 là 6.460.000 đồng; Giá trị thiệt hại của xe mô tô hai bánh nhãn hiệu HONDA WAVE, biển kiểm soát 20B2-022.93 là 2.980.000 đồng.

Ngày 04/12/2023, Cơ quan điều tra có Văn bản số 2067/CSĐT đề nghị Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng thành phố P cung cấp thông tin về đoạn đường nơi xảy ra vụ việc tai nạn giao thông có lắp đặt hệ thống đèn tín hiệu giao thông đường bộ không? Có hiệu lực không? và tại thời điểm xảy ra vụ tai nạn hệ thống đèn tín hiệu giao thông có hoạt động không? Tại Công văn số 1612/CV- QLDA ngày 07/12/2023 của Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng thành phố P trả lời xác định: Tại đoạn đường ngã tư nút giao K Quốc lộ C có lắp đặt hệ thống đèn tín hiệu giao thông đường bộ theo quy định và có hiệu lực, tại thời điểm ngày 13/8/2023 hệ thống đèn tín hiệu giao thông đường bộ này hoạt động bình thường.

Ngày 09/01/2024, Cơ quan điều tra có Công văn số 43/CSĐT đề nghị Sở giao thông vận tải tỉnh T kiểm tra rà soát, cung cấp thông tin: Trước và trong thời điểm ngày 13/8/2023, Trần Văn M đã được cấp giấy phép lái xe chưa? Nếu được cấp thì đó là giấy phép lái xe mô tô hạng gì? Do cơ quan nào cấp?. Tại thông báo trả lời số 12 ngày 12/01/2024 của Sở giao thông vận tải tỉnh T xác định: Sở giao thông vận tải tỉnh T không cấp phép lái xe mô tô cho người mang tên Trần Văn M (sinh ngày 08/4/2005, nơi cư trú tại Nga M, P, Thái Nguyên).

Quá trình điều tra, Trần Văn M khai:

M chưa có giấy phép lái xe theo quy định. Khoảng 19 giờ ngày 12/8/2023, M có nhờ anh Tạ Văn T4 (sinh năm 2006, trú tại xóm Đ, xã N, huyện P, Thái Nguyên) chở đi mua xe mô tô tại quán I thuộc tổ dân phố A, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Đến nơi, M gặp bà Trần Thị L (sinh năm 1976) và trao đổi thống nhất mua chiếc xe mô tô nhãn hiệu WAVE, xe cũ đã qua sử dụng gắn biển kiểm soát 98D1-789.10 với giá 6.300.000 đồng, M giao tiền cho bà L rồi nhận xe mà không có bất cứ giấy tờ gì. Sau khi mua được xe, M điều khiển xe đi ra khu vực quảng trường P chơi với T4. Khoảng 21 giờ cùng ngày M điều khiển xe quay lại quán KINH GAME chơi điện tử cho đến khoảng 05 giờ 30 phút ngày 13/8/2023, M điều khiển xe mô tô trên đi trên đường Quốc lộ 3 theo hướng Thái Nguyên – Hà Nội để về nhà. Khi đi đến khu vực ngã tư gần chợ B thuộc K tổ dân phố E, phường B, thành phố P có đèn tín hiệu giao thông. Lúc này, M thấy đèn tín hiệu giao thông đang là đèn đỏ. Tuy nhiên, khi đi đến gần thấy phía trước trong đoạn đường của ngã tư vắng phương tiện nghĩ có thể đi nhanh vượt qua ngã tư nên M tăng ga đi thẳng qua. Khi M đi vào trong ngã tư thì thấy có nhiều xe mô tô đi từ bên phải đường để đi qua ngã tư hướng về phường Đ. Do đang tăng ga để đi nhanh qua (M không để ý tốc độ là bao nhiêu) nên đã không kịp xử lý và đâm va vào một xe mô tô do một người phụ nữ điều khiển. Đầu xe của M đâm thẳng vào sườn xe bên trái của người phụ nữ khiến cả hai xe và người bị ngã văng ra, người phụ nữ nằm bất tỉnh trên đường cách xe mô tô của M khoảng 04m. M chỉ bị thương tích nhẹ nên cùng mọi người đưa người phụ nữ đến Bệnh viện Q1 cấp cứu sau đó quay lại hiện trường gọi xe ô tô tải chở xe mô tô của mình đến quán sửa xe. Khi đang sửa xe thì có lực lượng Công an liên hệ yêu cầu M đưa xe mô tô quay lại hiện trường để làm việc. Quá trình làm việc sau này M biết người phụ nữ điều khiển xe mô tô bị M đâm vào gây tai nạn là bà Hứa Thị M1.

Vật chứng của vụ án:

  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE biển kiểm soát 20B2-022.93 màu sơn Đen Bạc. Qua xác minh chủ sở hữu hợp pháp là bà Nguyễn Thị N (sinh năm 1974, trú tại xóm H, xã L, thành phố T) cho vợ chồng con gái là Nguyễn Thị O và Nguyễn Thanh H (là con của bà M1) mượn để đi lại, Cơ quan điều tra đã trả cho bà N quản lý sử dụng.
  • - 01 xe mô tô gắn biển kiểm soát: 98D1-789.10, số khung: RLHJA3903HY184062, số máy: JA39E0183380, xe đã qua sử dụng và bị hư hỏng. Qua xác minh xác định biển số: 98D1-789.10 là biển kiểm soát của xe mô tô nhãn hiệu AIR BLADE, đăng ký chủ xe là chị Nguyễn Thị T1 (sinh năm 1983, trú tại thôn S, xã N, huyện H, tỉnh Bắc Giang) chị T1 vẫn đang sở hữu và đang sử dụng không bán xe cho ai và chưa bị mất biển kiểm soát; Xác minh số khung: RLHJA3903HY184062, số máy: JA39E0183380 là của xe mô tô mang biển kiểm soát 20G1-404.29 đây là chiếc xe đăng ký chính chủ của anh Lương Văn T2 (sinh năm 1979, trú tại xóm T, xã K, huyện P, Thái Nguyên). Anh T2 cho biết chiếc xe mô tô này là tài sản của anh T2 bị kẻ gian trộm cắp vào khoảng tháng 8/2022. Tuy nhiên anh T2 nghĩ không thể tìm được nên không trình báo vụ việc đến cơ quan Công an hay cơ quan chức năng có thẩm quyền. Do chưa xác định được chính xác nguồn gốc đối với tài sản này, Cơ quan điều tra sẽ tách ra để tiếp tục xác minh nguồn gốc đối với phương tiện trên và 01 chiếc vành xe mô tô bằng kim loại, bị cong vênh móp méo (sau khi tai nạn M đã thay ra từ chiếc xe nêu trên), khi có đủ căn cứ sẽ xử lý theo quy định. Đối với chiếc biển kiểm sát 98D1-789.10 được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên chờ xử lý.
  • - 01 thẻ nhớ màu xanh viền trắng, trên thẻ nhớ có chữ KIOXIA EXCERIA 16GB được niêm phong trong phong bì ký hiệu “TN” kèm theo hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự:

Trần Văn M đã tác động tới gia đình để thỏa thuận bồi thường thiệt hại về tổn thất tinh thần cho gia đình bà Hứa Thị M1 với tổng số tiền là 350.000.000 đồng. Đại diện theo ủy quyền của gia đình bà M1, anh Nguyễn Thanh H không có yêu cầu đề nghị gì thêm và có đơn xin không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với M. Đối với thiệt hại của chiếc xe mô tô biển kiểm soát 20B2-022.93, chủ sở hữu bà Nguyễn Thị N không yêu cầu đề nghị gì.

Với nội dung nêu trên, Bản Cáo trạng số: 83/CT-VKSPY ngày 14/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Trần Văn M về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, sau khi phân tích các dấu hiệu phạm tội, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; đặc điểm nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trần Văn M về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn M phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  2. Về hình phạt chính: Áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm a khoản 2 Điều 260, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn M từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Trường hợp HĐXX xem xét cho M được hưởng mức khởi điểm của khung hình phạt thì đề nghị áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, cho M được hưởng án treo, thời gian thử thách 5 năm.
  3. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  4. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
  5. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự;
    • - Tiếp tục lưu giữ 01 thẻ nhớ màu xanh viền trắng, trên thẻ nhớ có chữ KIOXIA EXCERIA 16GB được niêm phong trong phong bì ký hiệu “TN” trong hồ sơ vụ án.
    • - Đối với chiếc biển kiểm soát 98D1-789.10 chuyển lại cho cơ quan điều tra để giải quyết trong vụ án khác.
  6. Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn M đã thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội, nhất trí với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Nói lời sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất và hưởng án treo để có thể được chăm sóc gia đình. Bị hại có đơn xin không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên toà vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị L, chị Nguyễn Thị T1, ông Lương Văn T2 và người làm chứng là bà Nguyễn Thị M2 và bà Nguyễn Thị N1. Tuy nhiên, xét thấy những người này đều đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt đối với những người có tên trên theo quy định.

[3] Về căn cứ buộc tội: Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Văn M tại phiên toà hôm nay là khách quan, phù hợp với lời khai những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với các kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong quá trình điều tra như kết quả khám nghiệm hiện trường, tử thi, phương tiện, hình ảnh trích xuất từ camera tại hiện trường..., Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 05 giờ 45 phút ngày 13/8/2023, tại K thuộc tổ dân phố E, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, Trần Văn M (chưa có giấy phép lái xe theo quy định) đã có hành vi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98D1-789.10 không chấp hành tín hiệu đèn giao thông (vượt đèn đỏ) khi đi qua nút giao ngã tư theo hướng Thái Nguyên – Hà Nội đã đâm va vào xe mô tô biển kiểm soát 20B2-022.93 do bà Hứa Thị M1 điều khiển đi đúng phần đường, tín hiệu đèn giao thông gây tai nạn. Hậu quả làm bà M1 bị thương tích nặng được đưa đi bệnh viện cấp cứu sau đó tử vong vào ngày 28/8/2023 và thiệt hại đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 20B2-022.93 do bà M1 điều khiển là 2.980.000 đồng. Lỗi trực tiếp gây ra vụ tai nạn giao thông nêu trên là do Trần Văn M điều khiển xe mô tô chưa có giấy phép lái xe theo quy định, không chấp hành tín hiệu đèn giao thông (vượt đèn đỏ) khi đi qua nút giao ngã tư; vi phạm khoản 9 Điều 8 và khoản 1 Điều 11 Luật Giao thông đường bộ:

“Điều 8. Các hành vi bị nghiêm cấm...

9. Điều khiển xe cơ giới không có giấy phép lái xe theo quy định.

Điều 11. Chấp hành báo hiệu đường bộ

1. Người tham gia giao thông phải chấp hành... chỉ dẫn của hệ thống báo hiệu đường bộ...”

Như vậy, hành vi của bị cáo đã tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Nội dung điều luật quy định:

“Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm...

a) Không có giấy phép lái xe theo quy định; ...”.

[4] Xét tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo:

Đây là vụ án thuộc trường hợp rất nghiêm trọng. Bị cáo M điều khiển, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ nhưng không chấp hành nghiêm chỉnh luật lệ giao thông đường bộ, dẫn đến hậu quả làm ảnh hưởng đến tính mạng, tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự giao thông đường bộ, gây hậu quả nghiêm trọng, làm chết 01 (một) người. Mặc dù bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, nhưng cũng cần xử lý bằng pháp luật hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung, góp phần nâng cao ý thức của những người tham gia giao thông.

[5] Tuy nhiên, xem xét nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:

Bị cáo Trần Văn M là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Sau khi xảy ra sự việc, bị cáo đã tác động đến gia đình nhờ bồi thường thiệt hại do mình gây ra cho gia đình bị hại. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi vi phạm của mình. Do vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, người đại diện hợp pháp của bị hại xin không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo nên HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Trong vụ án này, bị cáo cũng không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Xem xét hoàn cảnh của bị cáo thấy bị cáo là lao động chính trong gia đình, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, đủ điều kiện để hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP. HĐXX thấy rằng không cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà có thể cho bị cáo được hưởng mức khởi điểm của khung hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ sức để răn đe, giáo dục và không gây nguy hiểm cho xã hội.

[6] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Xét thấy bị cáo hiện là lao động tự do, cũng chưa có giấy phép lái xe, không hành nghề kinh doanh liên quan đến các quy định về tham gia giao thông đường bộ. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là cấm lái xe đối với bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Trần Văn M đã tác động tới gia đình và nhờ bố của bị cáo là ông Trần Văn Q bồi thường xong cho gia đình bị hại. Người đại diện hợp pháp của bị hại nhất trí với số tiền bồi thường trên và không đề nghị bồi thường thêm gì nên Hội đồng xét xử không xem xét. Ông Trần Văn Q cũng không yêu cầu bị cáo phải hoàn lại số tiền trên, xét thấy đây là sự tự nguyện của ông Q nên được HĐXX ghi nhận,

Đối với bà Nguyễn Thị N cũng không có yêu cầu đề nghị gì liên quan đến thiệt hại của chiếc xe mô tô biển kiểm soát 20B2-022.93 nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE biển kiểm soát 20B2-022.93 màu sơn Đen Bạc. Qua xác minh chủ sở hữu hợp pháp là bà Nguyễn Thị N (sinh năm 1974, trú tại xóm H, xã L, thành phố T) cho vợ chồng con gái là Nguyễn Thị O và Nguyễn Thanh H (là con của bà M1) mượn để đi lại, Cơ quan điều tra đã trả cho bà N quản lý sử dụng. Việc cơ quan điều tra trả lại cho bà N là đúng nên HĐXX không xem xét.
  • - Đối với 01 xe mô tô gắn biển kiểm sát: 98D1-789.10, số khung: RLHJA3903HY184062, số máy: JA39E0183380, xe đã qua sử dụng và bị hư hỏng. Qua xác minh xác định biển số là biển kiểm soát của xe mô tô nhãn hiệu AIR BLADE, đăng ký chủ xe là chị Nguyễn Thị T1, tuy nhiên chị T1 vẫn đang sở hữu và đang sử dụng không bán xe cho ai và chưa bị mất biển kiểm soát; Xác minh số khung và số máy là của xe mô tô đăng ký chính chủ của anh Lương Văn T2. Anh T2 cho biết chiếc xe mô tô này là tài sản của anh T2 bị kẻ gian trộm cắp vào khoảng tháng 8/2022. Tuy nhiên anh T2 nghĩ không thể tìm được nên không trình báo vụ việc đến cơ quan Công an hay cơ quan chức năng có thẩm quyền. Do chưa xác định được chính xác nguồn gốc đối với tài sản này, Cơ quan điều tra đã tách ra để tiếp tục xác minh nguồn gốc đối với phương tiện trên và 01 chiếc vành xe mô tô bằng kim loại, bị cong vênh móp méo (sau khi tai nạn M đã thay ra từ chiếc xe nêu trên), khi có đủ căn cứ sẽ xử lý theo quy định. Đối với chiếc biển kiểm soát 98D1-789.10, xét thấy cả chiếc biển kiểm soát và chiếc xe mô tô số khung: RLHJA3903HY184062, số máy: JA39E0183380 đều là vật chứng liên quan đến vụ việc khác nên cần chuyển lại cho Cơ quan điều tra để tiếp tục xác minh, làm rõ khi có đủ căn cứ sẽ xử lý theo quy định.
  • - Đối với 01 thẻ nhớ màu xanh viền trắng, trên thẻ nhớ có chữ KIOXIA EXCERIA 16GB được niêm phong trong phong bì ký hiệu “TN” cần tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[11] Các nội dung khác có liên quan: Đối với chiếc xe mô tô do M điều khiển gây tai nạn, M khai mua của bà Trần Thị L tại quán I thuộc tổ dân phố A, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên vào ngày 12/8/2023 với số tiền 6.300.000 đồng. Khi mua không có bất cứ giấy tờ gì, Cơ quan điều tra đã lấy lời khai của bà L và tiến hành đối chất giữa bà L với M và anh T4 nhưng bà L không thừa nhận việc đã bán xe cho M nên chưa đủ căn cứ xử lý đối với bà L.

[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn M phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;
  2. Về hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự;

    Xử phạt bị cáo Trần Văn M 03 (Ba) năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 (năm) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo M cho UBND xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên nơi bị cáo hiện đang cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự;
    • - Chuyển lại 01 chiếc biển kiểm soát 98D1-789.10 cho Cơ quan điều tra Công an thành phố P.
    • - Tiếp tục lưu giữ 01 thẻ nhớ màu xanh viền trắng, trên thẻ nhớ có chữ KIOXIA EXCERIA 16GB được niêm phong trong phong bì ký hiệu “TN” theo hồ sơ vụ án.
  4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/NQ - UBTVQH14 về mức thu, miễn giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Buộc bị cáo Trần Văn M phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định./.

*Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND TP. Phổ Yên;
  • - Công an TP. Phổ Yên;
  • - Cơ sở giam giữ bị cáo;
  • - Chi cục Thi hành án TP. Phổ Yên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - UBND xã;
  • - Bị cáo; bị hại, đương sự;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Minh Quang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 113/2024/HS-ST ngày 05/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 113/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt 3 năm tù cho hưởng án treo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger