|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 113/2024/HS-ST Ngày: 05 - 06 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông TRẦN VĂN CHINH
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà VÕ KIM HƯỜNG
2. Bà NGUYỄN THỊ MỸ LINH
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Kiều Oanh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông LÊ MINH HOÀNG - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 05 tháng 6 năm 2024 tại phòng xử hình sự Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 87/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2024/QĐXXST – HS ngày 13 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
NGUYỄN ĐỨC TIỀN; giới tính: Nam; sinh năm: 2000; tại: Tỉnh Đồng Tháp;
quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; thường trú: Ấp M, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; chỗ ở: 7 P, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; con ông: Nguyễn Đức L, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1969; Anh, chị, em ruột: 02 người (lớn nhất sinh năm 1988, nhỏ nhất sinh năm 1996); vợ: Võ Việt T1, sinh năm 2002; con 01 người, sinh năm 2024 ; tiền sự: Không; tiền án: Không; Bị bắt tạm giam ngày 21/01/2024 – có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Lê Hoàng T2, sinh năm 1997; Địa chỉ: 9 T, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh – Vắng mặt.
2. Chị Võ Việt T1, sinh năm 2002; Địa chỉ: P, nhà số G P, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh – Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do thất nghiệp, không có tiền tiêu xài từ cuối tháng 12/2023 nên Nguyễn Đức T3 nảy sinh ý định mua pháo nổ về bán lại để kiếm lời.
Vào cuối tháng 12/2023, thông qua mạng xã hội Facebook, T3 mua 05 bịch pháo nổ, mỗi bịch chứa nhiều vật thể hình cầu nhiều màu sắc và có gắn ngòi của Q (chưa rõ lai lịch) tại xã V, huyện B với giá 450.000 đồng/bịch, tổng số tiền là 2.250.000 đồng và thanh toán bằng tiền mặt. Sau đó, T3 bán 03 bịch pháo nổ với giá 650.000 đồng/bịt cho 02 người trên mạng xã hội Facebook (không nhớ tài khoản người mua), thu lợi được 600.000 đồng và cất giấu 02 bịch pháo nổ còn lại tại phòng trọ của T3 tại số G P, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh để bán.
Đến tháng 01/2024, T3 biết Nguyễn Thanh H (bạn đồng hương) ở thị xã B, tỉnh Bình Dương quen biết đối tượng (không rõ lai lịch) bán pháo nổ nên nhờ H mua giúp pháo nổ và nhận pháo nổ giúp T3 rồi T3 sẽ qua nơi ở của H lấy pháo nổ rồi thanh toán tiền mua pháo, cụ thể:
Ngày 03/01/2024, T3 đến phòng trọ của H lấy 04 hộp giấy chứa pháo nổ, trên bao bì mỗi hộp in chữ “CHONG KOL”, “C0850”, “MADE IN CHINA” do H mua dùm, với giá 1.000.000 đồng/hộp, T3 mượn tài khoản ngân hàng B số 68010001249256 của chị Võ Việt T1 (vợ của T3) và nói trả tiền nợ cho H rồi T3 chuyển trả số tiền 4.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng S số [...] của H. Sau đó, T3 bán hết 04 hộp pháo này cho 01 người trên mạng xã hội Facebook (không nhớ tài khoản người mua) với giá 1.400.000 đồng/hộp, tổng số tiền là 5.600.000 đồng và nhận tiền mặt, thu lợi 1.600.000 đồng.
Ngày 19/01/2024, T3 điều khiển xe máy hiệu Honda Vision, màu đen, biển số 66L1-734.95 chở chị T1 đến phòng trọ của H. Khi đến nơi, T3 cùng chị T1 ngồi chờ H tại quán nước bên ngoài dãy trọ đến khi H về, T3 cùng H đi vào phòng trọ của H còn chị T1 tiếp tục ngồi ở quán nước. Tại phòng trọ, H đưa cho T3 08 hộp giấy chứa pháo nổ, trên bao bì mỗi hộp in chữ “CHONG KOL”, “C0850”, “MADE IN CHINA” mà T3 đã nhờ H mua, rồi T3 lấy 02 cái balo màu đen và 01 thùng carton (đã chuẩn bị sẵn) đựng pháo nổ bằng cách bỏ 04 hộp pháo nổ vào thùng carton, 02 hộp pháo nổ vào mỗi cái balo để nguỵ trang. Sau đó, T3 chở chị T1 cùng số pháo nổ trên đi về Thành phố Hồ Chí Minh nhưng T3 không nói cho chị T1 biết đang cất giấu pháo nổ. Đến khoảng 12 giờ 20 phút cùng ngày, T3 đi đến số trước số G D, phường T, quận T để giao pháo nổ cho khách đặt mua thì bị phát hiện. Sau đó, T3 tự nguyện giao nộp 02 bịch pháo nổ đang cất giấu tại phòng trọ và số tiền thu lợi bất chính 2.200.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra Công an quận T, Nguyễn Đức T3 đã khai nhận toàn bộ hành vi buôn bán hàng cấm của mình, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ.
Kết luận giám định số 1624/KL-KTHS ngày 25/01/2024 của Phòng K Công an Thành phố H, kết luận:
- 08 khối hình hộp kích thước (17x17x10) cm bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, bên trong mỗi khối có 49 ống giấy hình trụ đường kính 2,4 cm, dài 10 cm được nối với nhau bằng dây dẫn cần giám định (đã nêu ở mục II.1) đều là pháo nổ, có tổng khối lượng 13,80 kg.
- 02 gói nylon chứa các vật hình cầu dạng quả bóng, vỏ bằng nhựa nhiều màu sắc được nối với dây dẫn cần giám định (đã nêu ở mục II.1) đều là pháo nổ, có tổng khối lượng 0,90 kg. (BL 150)
* Vật chứng thu giữ:
- 08 (tám) hộp giấy chứa pháo nổ, trên bao bì mỗi hộp in chữ “CHONG KOL”, “C0850”, “MADE IN CHINA”, có tổng khối lượng là 13,8 kg.
- 02 (hai) túi nylon, mỗi túi có chứa các vật thể hình cầu là pháo nổ, có tổng khối lượng là 0,9 kg.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, số Imei: 356770085162533, đây là điện thoại được T3 sử dụng buôn bán pháo nổ.
- 01 (một) thùng carton;
- 02 (hai) chiếc balo màu đen;
Đây là công cụ được T3 sử dụng cất giấu pháo nổ.
- Số tiền 2.200.000 đồng, đây là số tiền mà T3 thu lợi bất chính do buôn bán pháo nổ.
- 01 (một) xe máy hiệu Honda Vision, màu đen, biển số 66L1-734.95, số khung: RLHJF5809EY854224, số máy: JF58E0854242, đây là xe máy được T3 sử dụng để buôn bán pháo nổ.
Qua xác minh, xe máy biển số 66L1-734.95 do anh Phạm Tấn T4 trú tại E T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp đứng tên chủ sở hữu (BL 148). Qua làm việc, anh Phạm Tấn T4 trình bày mua xe máy trên vào năm 2021 và đứng tên chủ sở hữu, sử dụng đến giữa năm 2022 bán lại cho anh Trần Tú M với giá 21.000.000 đồng nhưng không làm thủ tục sang tên (BL 103). Anh Trần Tú M trình bày mua xe máy trên của anh T4 vào giữa năm 2022, đến tháng 9/2022 bán lại cho anh Nguyễn Hoàng L1 với giá 27.800.000 đồng, có làm hợp đồng mua bán nhưng không làm thủ tục sang tên (BL 107). Anh Nguyễn Hoàng L1 trình bày mua xe máy trên của anh M vào tháng 9/2022 dùm cho anh Nguyễn Hoàng A (anh ruột của anh L1) và chị Huỳnh Thị Kim Y (T5, bạn gái của anh Hoàng A), đã giao lại xe máy trên cho anh Hoàng A và chị Y nhưng chưa làm thủ tục sang tên (BL 112). Anh Nguyễn Hoàng A và chị Huỳnh Thị Kim Y (T5) trình bày nhờ anh L1 mua xe máy trên vào tháng 9/2022 với giá 27.800.000 đồng, đến tháng 4/2023 mượn anh Lê Hoàng T2 số tiền 15.000.000 đồng nhưng không có khả năng chi trả nên đã bàn giao xe máy trên cho anh T2 để trừ nợ (BL 118, 120). Anh Lê Hoàng T2 trình bày anh Hoàng A và chị Y mượn số tiền 15.000.000 đồng nhưng không có khả năng chi trả nên đã bàn giao xe máy trên cho anh T2, đến tháng 8/2023 cho T3 mượn xe máy trên để đi làm thuê, không biết T3 sử dụng để đi buôn bán pháo nổ, yêu cầu nhận lại xe máy trên (BL 127).
Qua làm việc, Nguyễn Đức T3 khai nhận mượn xe máy trên của anh Lê Hoàng T2 vào tháng 8/2023 để đi làm thuê, anh T2 không biết T3 sử dụng xe máy trên để đi buôn bán pháo nổ (BL 38). Cơ quan điều tra xác định anh Lê Hoàng T2 là chủ sở hữu hợp pháp của xe máy biển số 66L1-734.95 nên Cơ quan điều tra đã trao trả xe máy trên cho anh T2 (BL 130).
Các vật chứng còn lại đang nhập kho vật chứng theo Lệnh nhập kho vật chứng số 32, 33/LNK-CSKT ngày 31/01/2024 và số 68/LNK-CSKT ngày 11/3/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T. (BL 155, 159, 161).
Tại Bản cáo trạng số 103/CT-VKSQ.TP ngày 17 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức T3 về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa:
Sau khi kết thúc phần xét hỏi, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa, phát biểu ý kiến giữ nguyên quan điểm về tội danh và điều khoản mà cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Đức T3 từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm 06 tháng tù.
- Bị cáo Nguyễn Đức T3 đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung vụ án được tóm tắt như trên, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Võ Việt T1 không có ý kiến gì.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã biết lỗi, rất hối hận về việc làm của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Qua đó đã có đủ cơ sở để xác định:
Khoảng 12 giờ 20 phút ngày 19/01/2024, Nguyễn Đức T3 có hành vi cất giấu 14,70 kg pháo nổ (08 hộp giấy chứa pháo nổ, có tổng khối lượng là 13,8 kg tại trước số G D, phường T, quận T; 02 túi nylon chứa các vật thể hình cầu là pháo nổ, có tổng khối lượng là 0,90 kg tại phòng trọ số 205, địa chỉ 7 P, phường P, quận T), mục đích để buôn bán, thì bị phát hiện. Hành vi của bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú truy tố theo điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có cơ sở, đúng pháp luật.
Đối với chị Võ Việt T1 không biết bị cáo Nguyễn Đức T3 đang cất giấu pháo nổ để buôn bán nên Cơ quan điều tra không xử lý T1 về hành vi “Buôn bán hàng cấm” với vai trò đồng phạm, là có cơ sở.
Đối với Nguyễn Thanh H giúp sức cho Nguyễn Đức T3 mua pháo nổ để bán kiếm lời, nhưng hiện chỉ có lời khai của T3, không có nhân chứng trực tiếp việc H giao pháo nổ cho T3 và chưa làm việc được với H, nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy tìm đối với Nguyễn Thanh H để tiếp tục xác minh, làm rõ. Do sự việc buôn bán pháp nổ việc xảy ra trên địa bàn thị xã B, tỉnh Bình Dương nên Cơ quan điều tra Công an quận T đã ra thông báo đến Công an thị xã B, tỉnh Bình Dương để tiếp tục điều tra theo thẩm quyền.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước về buôn bán hàng cấm, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự an toàn xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết áp dụng hình phạt thật nghiêm khắc đối với bị cáo mới có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được xem xét hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[5] Về xử lý vật chứng:
- 08 (tám) hộp giấy chứa pháo nổ, trên bao bì mỗi hộp in chữ “CHONG KOL”, “C0850”, “MADE IN CHINA”, có tổng khối lượng là 13,8 kg và 02 (hai) túi nylon, mỗi túi có chứa các vật thể hình cầu là pháo nổ, có tổng khối lượng là 0,9 kg. Đây là hàng hoá cấm lưu hành xét nên tịch thu tiêu huỷ.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, số Imei: 356770085162533, đây là điện thoại được bị cáo T3 sử dụng buôn bán pháo nổ xét nên tịch thu sung quỹ.
- 01 thùng carton và 02 chiếc balo màu đen, đây là công cụ được bị cáo T3 sử dụng cất giấu pháo nổ xét nên tịch thu tiêu huỷ.
- Số tiền 2.200.000 đồng, đây là số tiền mà bị cáo T3 thu lợi bất chính do buôn bán pháo nổ xét nên tịch thu sung quỹ.
Các vật chứng còn lại đang nhập kho vật chứng theo Lệnh nhập kho vật chứng số 32, 33/LNK-CSKT ngày 31/01/2024 và số 68/LNK-CSKT ngày 11/3/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T.
Đối với 01 xe máy hiệu Honda Vision, màu đen, biển số 66L1-734.95, số khung: RLHJF5809EY854224, số máy: JF58E0854242 là xe bị cáo mượn của anh anh Lê Hoàng T2, anh T2 không biết bị cáo sử dụng xe để đi buôn bán hàng cấm nên Cơ quan điều tra đã trao trả xe máy trên cho anh T2.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Không có.
[7] Qua ý kiến tranh luận của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi lượng hình.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T3 phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
[2] Căn cứ vào:
- Điểm c khoản 1 Điều 190; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T3 02 (hai) năm tù giam.
Thời hạn tù tính từ ngày 21/01/2024.
[3] Về hình phạt bổ sung: Không có.
[4] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu huỷ: 08 (tám) hộp giấy chứa pháo nổ, trên bao bì mỗi hộp in chữ “CHONG KOL”, “C0850”, “MADE IN CHINA”, có tổng khối lượng là 13,8 kg và 02 (hai) túi nylon, mỗi túi có chứa các vật thể hình cầu là pháo nổ, có tổng khối lượng là 0,9 kg và 01 (một) thùng carton và 02 (hai) chiếc balo màu đen.
- Tịch thu sung quỹ 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, số Imei: 356770085162533 và số tiền 2.200.000 (hai triệu hai trăm nghìn) đồng.
Các vật chứng còn lại đang nhập kho vật chứng theo Lệnh nhập kho vật chứng số 32, 33/LNK-CSKT ngày 31/01/2024 và số 68/LNK-CSKT ngày 11/3/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Không có.
[6] Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm
Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
[7] Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Trong hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày Tòa án tống đạt, niêm yết bản án hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Chinh |
Bản án số 113/2024/HS-ST ngày 05/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (buôn bán hàng cấm)
- Số bản án: 113/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Buôn bán hàng cấm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: nguyễn đức tiền
