|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 113/2024/HS - ST Ngày: 04 - 6 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lưu Thị Hồng Vân.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lê Thị Thanh.
- Ông Nguyễn Quang Đạt.
- Thư ký phiên toà: Ông Đặng Thanh Tùng - Thư ký Toà án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Thu Ninh - Kiểm sát viên.
- Đại diện Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa tại điểm cầu thành phần: Ông Ngô Xuân H - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa tại điểm cầu thành phần: Ông Chu Văn Q - Kiểm sát viên.
Trong ngày 04 tháng 6 năm 2024, tại:
- Điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.
- Điểm cầu thành phần: Trại tạm giam số I - Công an thành phố H.
Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 77/2024/TLST - HS ngày 19 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/2024/QĐXXST - HS ngày 20 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Lê Đức H1, sinh ngày 11/8/1993 tại Nam Định.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn A, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định; chỗ ở trước khi bị bắt: số nhà A - 14 khu B, phường C, quận B, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Quang L và bà Nguyễn Thị N; vợ con: chưa có; tiền án: không; tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ ngày 06/01/2024, bị tạm giam từ ngày 12/01/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số II - Công an thành phố H. Có mặt tại điểm cầu thành phần.
2
2. Nguyễn Hữu C, sinh ngày 07/12/2000 tại Thái Bình.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn D, xã D, huyện V, tỉnh Thái Bình; chỗ ở trước khi bị bắt: số nhà A - 14 khu B, phường C, quận B, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thái N1 và bà Lại Thị T; vợ con: chưa có; tiền án: không; tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ ngày 05/01/2024, bị tạm giam từ ngày 11/01/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số II - Công an thành phố H. Có mặt tại điểm cầu thành phần.
- Người chứng kiến: Ông Nguyễn Tô H2. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Đức H1 và Nguyễn Hữu C thuê trọ ở cùng nhau tại địa chỉ số A -14 khu B, phường C, quận B, thành phố Hà Nội. Khoảng tháng 12/2023, H1 lên mạng xã hội Facebook vào một nhóm (H1 không nhớ tên) để tìm mua ma tuý đá, H1 hỏi mua của 01 người trong nhóm 10 gam ma tuý đá. Người này đồng ý và báo giá 10.000.000 đồng. H1 đồng ý. Sau đó, H1 đến một đoạn đường hẹn trước và mua của nam thanh niên này số ma tuý trên. Mua được ma tuý, H1 mang về phòng trọ để sử dụng dần. Do cần tiền để đóng tiền thuê nhà trọ, H1 nảy sinh ý định bán số ma tuý còn lại gồm 01 túi nilong màu trắng, kích thước khoảng 5x8cm và 01 túi nilong màu trắng có kích thước khoảng 4x7cm, bên trong mỗi túi đều chứa tinh thể màu trắng. H1 đặt mua 01 chiếc cân điện tử màu trắng hình chữ nhật có kích thước khoảng 6x12cm và bàn với Nguyễn Hữu C lên mạng tìm người mua ma tuý, nếu ai hỏi mua thì bán với giá 1.000.000 đồng/1 gam. Tối cùng ngày, C lên mạng xã hội Z và vào hội nhóm để nói chuyện. Có nhắn tin với một tài khoản tên “Minh Q1” có nhu cầu mua ma tuý đá. Cả 2 thống nhất về việc Có bán cho “Minh Q1” 2 gam ma tuý đá với giá 1.250.000 đồng/ 1 gam và hẹn giao dịch tại khu tập thể C, phường T, quận T, thành phố Hà Nội. Tiếp đó, C lấy số ma tuý trên và cầm theo chiếc cân điện tử màu trắng của H1 đến chỗ hẹn. Khoảng 09 giờ 45 phút ngày 05/01/2024, khi C đứng trước khu tập thể C, phường T, quận T, thành phố Hà Nội đợi “Minh Quân” để giao ma tuý thì bị tổ công tác công an phường T yêu cầu kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, C tự giác lấy ra từ túi áo khoác phía trước bên phải đang mặc số ma tuý và chiếc cân điện tử trên giao nộp cho tổ công tác. Có khai nhận đây là ma túy dạng đá đang mang đi để bán cho khách. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản, thu giữ, niêm phong tang vật và đưa C về trụ sở công an phường giải quyết.
Cơ quan công an thu giữ của Nguyễn Hữu C:
01 túi nilon màu trắng, kích thước 5x8 cm và 01 túi nilon màu trắng, kích thước 4x7 cm bên trong mỗi túi đều chứa tinh thể màu trắng; 01 chiếc cân điện tử hình chữ nhật màu trắng kích thước 6x12 cm; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen, số Imei1: 866596067677625, số Imei 2: 866596067677633
Cơ quan công an thu giữ của Lê Đức H1:
01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu xanh, số Imei 1: 862342060200204, số Imei 2: 862342060200212.
3
Tại bản Kết luận giám định số 423 ngày 12/01/2024 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận:
- Tinh thể màu trắng bên trong 02 túi nilon đều là ma tuý loại Methamphetamine tổng khối lượng là 4,675 gam.
- 01 cân điện tử màu trắng có dính ma tuý loại Methamphetamine.
Bản Cáo trạng số 72/CT-VKSTX ngày 17 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội đã quyết định:
Truy tố các bị cáo Lê Đức H1 và Nguyễn Hữu C về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và luận tội có quan điểm: vẫn giữ nguyên quan điểm như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về trách nhiệm hình sự:
+ Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Đức H1 từ 06 năm tù đến 06 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/01/2024, miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
+ Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu C từ 06 năm tù đến 06 năm 03 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/01/2024, miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
- Về các biện pháp tư pháp: đề nghị áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy:
01 phong bì dán kín niêm phong, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Trần Huy V, cán bộ Công an phường T - Trịnh Ngọc H3, bị cáo Nguyễn Hữu C, người chứng kiến Nguyễn Tô H2 và đóng dấu của Công an phường T. Bên trong có 4,55 gam ma tuý M (thu giữ ban đầu là 4,675 gam, PC09 trích mẫu 0,125 gam); 01 phong bì dán kín niêm phong, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Trần Huy V, cán bộ Công an phường T - Trịnh Ngọc H3, Nguyễn Hữu C, người chứng kiến Nguyễn Tô H2 và đóng dấu của Công an phường T, bên trong có 01 cân điện tử dính ma tuý loại Methamphetamine.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước:
01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen, số Imei 1: 866596067677625, số Imei 2: 866596067677633, bên trong có lắp sim; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu xanh, số Imei 1: 862342060200204, số Imei 2: 862342060200212, bên trong có lắp sim.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì đối với luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và các bị cáo đều nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử
4
xem xét để cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]Về hành vi, quyết định tố tụng: trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đối với vụ án đều hợp pháp.
[2] Đánh giá về hành vi của bị cáo theo tội danh, điểm, khoản, điều của Bộ luật Hình sự mà Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân đã truy tố:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều khai nhận: bị cáo Lê Đức H1 và Nguyễn Hữu C thuê trọ cùng nhau. Khoảng tháng 12/2023, bị cáo H1 lên mạng tìm mua ma túy đá về để sử dụng dần. Do cần tiền đóng tiền trọ, bị cáo H1 đã nảy sinh ý định bán trái phép số ma túy đã mua nhằm mục đích kiếm lời. Bị cáo H1 có bàn với bị cáo C lên mạng tìm người mua ma túy và nếu ai hỏi mua thì bán với giá 1.000.000 đồng/gam. Khoảng 13 giờ ngày 04/01/2024, bị cáo H1 có đưa cho bị cáo C 02 túi nilong bên trong có chứa ma túy. Bị cáo C đã lên mạng xã hội Z và vào hội nhóm để nói chuyện thì có tài khoản tên “Minh Q1” có nhu cầu muốn mua ma túy đá. Bị cáo C và tài khoản tên “Minh Q1” thống nhất với nhau Có sẽ bán cho “Minh Q1” 02 gam ma túy đá với giá 1.250.000 đồng/gam và hẹn giao dịch tại khu tập thể C, phường T, quận T, thành phố Hà Nội để giao dịch. Khi bị cáo C đến khu tập thể C, phường T, quận T, thành phố Hà Nội để đợi giao dịch thì bị Cơ quan Công an bắt quả tang.
Lời khai của các bị cáo cũng phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong vụ án.
Tại bản Kết luận giám định số 423 ngày 12/01/2024 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận:
- Tinh thể màu trắng bên trong 02 túi nilon đều là ma tuý loại Methamphetamine tổng khối lượng là 4,675 gam.
Như vậy đã có đủ cơ sở để kết luận:
khoảng 09 giờ 45 phút ngày 05/01/2024, tại khu vực trước khu tập thể C, phường T, quận T, thành phố Hà Nội, Nguyễn Hữu c đã có hành vi tàng trữ 4,675 gam ma túy loại Methamphetamine để bán cho khách kiếm lời thì bị tổ công tác Công an phường T kiểm tra bắt giữ cùng tang vật. Lê Đức H1 là người khởi xướng việc bán ma túy.
Hành vi của các bị cáo Lê Đức H1 và Nguyễn Hữu C đã phạm vào tội
5
“Mua bán trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Do đó, bản Cáo trạng số 72/CT-VKSTX ngày 17 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội và lời buộc tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, luận tội tại phiên tòa là có đủ cơ sở, cần được chấp nhận.
[3] Đánh giá về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
- Về nhân thân: Bị cáo Lê Đức H1 và bị cáo Nguyễn Hữu C là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê Đức H1 và bị cáo Nguyễn Hữu C không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: sau khi phạm tội các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Nguyễn Hữu C có bố đẻ là Nguyễn Thái N1 đã từng tham gia Quân đội và có Giấy chứng nhận Thương binh loại A. Vì vậy, bị cáo Nguyễn Hữu C được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về vai trò của các bị cáo trong vụ án và hình thức xử lý đối với các bị cáo:
Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, bị cáo Lê Đức H1 là người khởi xướng việc bán ma túy. Bị cáo Nguyễn Hữu C là người tiếp nhận ý chí của bị cáo H1 trực tiếp mang ma túy đi bán nhưng chưa bán được, do vậy các bị cáo chịu mức hình phạt bằng nhau trong vụ án này.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý và các chất gây nghiện, làm mất trật tự, an toàn xã hội. Chất ma túy gây nguy hại đến sức khoẻ con người, ma túy cũng là mầm mống phát sinh các loại tệ nạn xã hội và tội phạm khác, tạo nên nhiều bức xúc trong quần chúng nhân dân. Những năm qua Đảng, Nhà nước, chính quyền địa phương và các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội đã có nhiều chủ trương, biện pháp nhằm đấu tranh, ngăn chặn đối với các tội phạm về ma tuý, nhiều cuộc vận động, tuyên truyền về tác hại của ma tuý đã được tổ chức, rất nhiều tội phạm về ma tuý đã bị pháp luật trừng trị, nhưng các bị cáo Lê Đức H1 và Nguyễn Hữu C không lấy đó làm bài học mà đã có hành vi mua bán trái phép chất ma túy kiếm lời. Do vậy, hành vi của các bị cáo phải bị xử lý thật nghiêm theo quy định. Căn cứ vào nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; sau khi đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tù cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian phù hợp thì mới đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm, đặc biệt là các tội phạm về ma túy trong giai đoạn hiện nay và giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành công dân có ích
6
cho xã hội. Xét thấy, các bị cáo là không có nghề nghiệp và không có thu nhập ổn định nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo.
[5] Về vật chứng của vụ án và các vấn đề khác của vụ án:
- Đối với 01 phong bì chứa ma túy hoàn lại sau giám định là vật nhà nước cấm tàng trữ lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 phong bì chứa cân điện tử dính ma túy loại Methamphetamine là phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 02 chiếc điện thoại đã thu giữ của các bị cáo là chiếc điện thoại mà bị cáo H1 và bị cáo C dùng vào việc mua bán trái phép chất ma túy nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
- Đối với người bán ma túy cho bị cáo H1, do bị cáo không biết rõ tên tuổi địa chỉ. Cơ quan Điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Đối với người sử dụng Zalo tên Minh Q1 mua ma túy của bị cáo C, do bị cáo không biết rõ tên tuổi, địa chỉ và đã xóa hết tin nhắn trên Zalo. Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[6] Về án phí: các bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo: các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: tuyên bố các bị cáo Lê Đức H1 và Nguyễn Hữu C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Đức H1 06 (sáu) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/01/2024.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu C 06 (sáu) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/01/2024.
- Về các biện pháp tư pháp: căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; các điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy:
01 phong bì dán kín niêm phong, bên ngoài có chữ ký
7
của giám định viên Trần Huy V, cán bộ Công an phường T - Trịnh Ngọc H3, bị cáo Nguyễn Hữu C, người chứng kiến Nguyễn Tô H2 và đóng dấu của Công an phường T. Bên trong có 4,55 gam ma tuý M (thu giữ ban đầu là 4,675 gam, PC09 trích mẫu 0,125 gam); 01 phong bì dán kín niêm phong, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Trần Huy V, cán bộ Công an phường T - Trịnh Ngọc H3, Nguyễn Hữu C, người chứng kiến Nguyễn Tô H2 và đóng dấu của Công an phường T, bên trong có 01 cân điện tử dính ma tuý loại Methamphetamine.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước:
01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen, số Imei 1: 866596067677625, số Imei 2: 866596067677633, bên trong có lắp sim; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu xanh, số Imei 1: 862342060200204, số Imei 2: 862342060200212, bên trong có lắp sim.
(Tình trạng các vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/6/2024 giữa Công an quận T và Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Xuân).
- Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Lê Đức H1 và Nguyễn Hữu C mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Lưu Thị Hồng Vân |
8
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lưu Thị Hồng Vân |
Bản án số 113/2024/HS - ST ngày 04/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 113/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lê Đức H và Nguyễn Hữu C phạm tội mua bán trái phép chất ma tuý
