Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ QUẾ VÕ

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 113/2025/HSST

Ngày 15/4/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Liên

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Chúc và bà Phan Thị Nhụ

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nụ, thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Ngọc Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 97/2025/HSST ngày 07 tháng 3 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 98/2025/QĐXXST - HS ngày 11 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06 ngày 26/3/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, đối với bị cáo:

Dương Mạnh T, sinh năm 1990; Giới tính: Nam; HKTT: Khu phố B, phường N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Học vấn: 12/12; Con ông Dương Quốc S và con bà Nguyễn Thị H; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con lớn; Vợ là Vi Thanh C, sinh năm 1990 và 03 con. Con lớn sinh năm 2011, con nhỏ nhất sinh năm 2020.

Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.

Bị cáo tại ngoại áp dụng biện pháp ngăn chặn “cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên tòa.

*. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Trọng L, sinh năm 1950 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Q, xã Q, xã V, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Công ty TNHH X (gọi tắt là Công ty X) mã số thuế: 2301022917, Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 2301022917 do Sở kế hoạch đầu tư tỉnh B cấp ngày 23/03/2018, thay đổi lần 3 ngày 09/05/2023. Ngành nghề kinh doanh chủ yếu: San lấp mặt bằng, xây dựng công trình... Giám đốc, người đại diện theo pháp luật là Dương Mạnh T, sinh năm 1990, HKTT: Khu phố B, phường N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.

Quá trình hoạt động kinh doanh, thời điểm năm 2018 - 2020 công ty X thực hiện hợp đồng san lấp mặt bằng tại cụm KCN E thuộc xã C, thị xã Q. Thời gian này, T đã mua một số cát, sỏi, đá, base của tàu thuyền trên sông, không có hoá đơn GTGT, chứng từ để thực hiện việc san lấp. Để hợp thức hoá đầu vào chi phí sản xuất, kinh doanh, Dương Mạnh T, đã liên hệ với nhiều đầu mối bán hoá đơn GTGT để mua hoá đơn, kê khai cho số hàng hoá mua trôi nổi ở trên. Trong khoảng thời gian từ cuối 2018 đến 2022, Dương Mạnh T đã mua khống 17 hoá đơn GTGT của các công ty khác nhau để kê khai, giảm số tiền thuế phải nộp cho cơ quan nhà nước. Cụ thể như sau:

  • 10 hóa đơn GTGT khống của Công ty TNHH T2 (viết tắt là công ty T2) MST: 2400850157, địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang, ký hiệu NQ/18P gồm các số: 0000015 ngày 15/12/2018, 0000056 ngày 10/02/2019, 0000064 ngày 28/02/2019, 0000072 ngày 22/03/2019, 0000075 ngày 02/03/2019, 0000078 ngày 28/03/2019, 0000091 ngày 31/03/2019, 0000098 ngày 10/04/2019, 0000110 ngày 29/04/2019, 0000121 ngày 28/05/2019 với tổng tiền hàng hóa là 3.426.591.815 đồng, thuế GTGT: 342.659.183 đồng.
  • 03 hóa đơn GTGT khống của Công ty TNHH R, mã số thuế: 0801212743, địa chỉ: Ki ốt A, khu đô thị M, phường C, TP H, tỉnh Hải Dương, ký hiệu AA/18P gồm các số: 0000079 ngày 30/07/2019, 0000081 ngày 31/07/2019, 0000077 ngày 27/09/2019 với tổng số tiền hàng hóa 1.831.363.637 đồng, thuế GTGT 183.136.363 đồng
  • 03 hóa đơn GTGT khống của Công ty TNHH K (viết tắt là công ty K), mã số thuế: 0201902262, địa chỉ: Số A L, phường L, quận N, thành phố Hải Phòng, ký hiệu AA/18P gồm các số 0000707 ngày 10/07/2020, 0000764 ngày 30/08/2020, 0000788 ngày 28/09/2020, với tổng số tiền hàng hóa 1.605.243.035 đồng, thuế GTGT: 160.524.304 đồng.
  • 01 hóa đơn GTGT khống của Công ty TNHH X1 (Viết tắt là công ty X1), mã số thuế: 1001244064, địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình, ký hiệu 1C22TXD, số hóa đơn 0000022 ngày 29/8/2022, giá trị hàng hóa 1.162.112.000 đồng, thuế GTGT 116.211.200 đồng

Tổng doanh thu trước thuế đối với 17 hóa đơn của 04 công ty trên là: 8.025.310.487 đồng, tiền thuế GTGT là 802.531.050 đồng.

Tất cả các số hóa đơn GTGT khống trên đã được Công ty X kê khai báo cáo thuế vào quý 4/2018, quý 1/2019, quý 2/2019, quý 3/2019, quý 3/2020, quý 3/2022. Khi mua các số hóa đơn GTGT khống trên, Dương Mạnh T cung cấp cho người bán hóa đơn thông tin, số lượng hàng hóa, số tiền cần ghi trên hóa đơn. Sau đó, hóa đơn GTGT khống sẽ được chuyển phát nhanh đến cho T và người bán hóa đơn đến trực tiếp gặp T để thanh toán tiền mua bán hóa đơn GTGT khống. Để hợp thức thanh toán hàng hóa cho việc mua bán hóa đơn, T sẽ chuyển khoản tiền từ tài khoản Công ty X vào tài khoản của Công ty xuất hóa đơn, người bán hóa đơn sẽ trả lại bằng tiền mặt số tiền đã được trừ phí mua bán hóa đơn khống hoặc người bán hóa đơn trả lại bằng tiền mặt toàn bộ tiền T đã chuyển khoản, rồi T trả phí mua hóa đơn. Số tiền T phải chi trả phí mua hóa đơn với giá từ 1% đến 8% (tùy theo từng thỏa thuận) trên tổng số tiền chưa bao gồm thuế của các tờ hóa đơn đã mua. Việc mua bán hóa đơn GTGT trên do Dương Mạnh T trực tiếp thực hiện, không có ai trong công ty biết hay giúp sức cho T.

Ngày 16/12/2024, Dương Mạnh T đến cơ quan CSĐT Công an thị xã Q đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi mua bán các số hóa đơn trên hợp lý hóa đầu vào để trốn thuế nêu trên, đồng thời, T tự nguyện nộp khắc phục 100.000.000 đồng tiền thuế. Giai đoạn truy tố ngày 25/02/2025, Dương Mạnh T nộp 200.000.000 đồng để khắc phục hậu quả.

Ngày 17/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q tiến hành khám xét trụ sở công ty X, không thu giữ gì.

Trên cơ sở Quyết định trưng cầu giám định của Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q, tại bản Kết luận giám định ngày 16/12/2024 của Giám định tập thể - Cục thuế tỉnh B kết luận:

  • * Về thuế giá trị gia tăng:

    17 số hoá đơn khống (hoá đơn không có hàng hoá, dịch vụ kèm theo) do các công ty TNHH T2, công ty R, công ty K và công ty X1 phát hành nêu trên cho công ty TNHH X không đủ điều kiện khấu trừ thuế GTGT đầu vào, tổng số tiền thuế GTGT không đủ điều kiện khấu trừ là 802.531.050 đồng.

    Công ty TNHH X sử dụng không hợp pháp 17 số hoá đơn GTGT để hợp thức hàng hoá, nguyên liệu đầu vào, làm giảm số thuế phải nộp là hành vi trốn thuế GTGT gây thiệt hại cho Ngân sách nhà nước số tiền 802.531.050 đồng.

  • * Thuế thu nhập doanh nghiệp: Không có đủ cơ sở để xác định số tiền thuế TNDN Công ty X đã trốn, gây thiệt hại cho Ngân sách Nhà nước.
  • * Thuế tài nguyên: Không có căn cứ để giám định hành vi trốn thuế tài nguyên"

Tiến hành xác minh đối với các công ty xuất hoá đơn khống cho công ty X xác định:

  • * Đối với công ty T2:

    - Tại nơi đăng ký kinh doanh, Công ty T2 không có bất kỳ hoạt động kinh doanh nào tại địa chỉ đã đăng ký với cơ quan chức năng. Làm việc người đại diện theo pháp luật của Công ty T2 là anh Nguyễn Ngọc Q, sinh năm: 1987, HKTT: Tổ dân phố E, TT N, Y, Bắc Giang, xác định anh Q không thành lập, không tham gia vào hoạt động kinh doanh của Công ty T2.

    - Xác minh tại Ngân hàng TMCP C3 chi nhánh B nơi công ty T2 đăng ký thấy các giao dịch chuyển khoản thanh toán tiền mua hàng hóa của Công ty X cho Công ty T2 đều có mã giao dịch “NGUYEN TRONG LUNG RT” rút tiền. Căn cứ theo 04 Séc rút tiền của Công ty T2 do ngân hàng TMCP C3 chi nhánh B cung cấp, cơ quan điều tra xác định người rút tiền là Nguyễn Trọng L, sinh năm: 1950, HKTT: Quang Biểu, Q, V, Bắc Giang.

    Tại cơ quan điều tra Nguyễn Trọng L khai nhận: Vào cuối năm 2018, được một người phụ nữ tên L1 (không rõ tên tuổi địa chỉ cụ thể, chỉ biết là người quê ở Bắc Giang) đặt vấn đề về việc bán hóa đơn GTGT khống của Công ty T2, với mỗi hoá đơn khống bán được, L sẽ được L1 trả 01% giá trị hoá đơn chưa thuế. Từ tháng 12/2018 đến tháng 05/2019, Nguyễn Trọng L đã viết 10 số hoá đơn đầy đủ nội dung (theo thông tin L1 cung cấp) không có hàng hoá kèm theo để xuất cho Công ty X, được hưởng lợi số tiền 3.426.591.815 đồng x 1%= 34.265.918 đồng, số tiền trên Nguyễn Trọng L được Luân trả bằng tiền mặt. Ngoài ra, L không bán hóa đơn GTGT khống cho công ty nào khác.

  • * Đối với Công ty TNHH R, Công ty K, Công ty X1:

    - Tại địa chỉ đăng ký kinh doanh xác định các công ty trên không có bất kỳ hoạt động kinh doanh nào tại địa chỉ đã đăng ký với cơ quan chức năng. Tiến hành làm việc với người đại diện theo pháp luật của các công ty đều thể hiện không thành lập Công ty, không liên quan gì đến hoạt động kinh doanh của Công ty

    - Xác minh giao dịch thanh toán mua bán hàng hóa: Cơ quan điều tra nhiều lần gửi công văn đề nghị ngân hàng B1 chi nhánh H1, Hải Phòng và ngân hàng M Chi nhánh N2 cung cấp thông tin, tài liệu gốc liên quan đến mã giao dịch rút tiền để xác minh làm rõ nhưng đến nay chưa nhận được tài liệu do ngân hàng cung cấp.

  • * Vật chứng

    - Đối với 17 số hóa đơn GTGT gồm 10 số hóa đơn GTGT (liên 2) của Công ty T2, 03 số hóa đơn GTGT (liên 2) của Công ty R, 03 số hóa đơn GTGT (liên 2) của Công ty K, 01 số hóa đơn GTGT (liên 2) của Công ty X1, lưu theo hồ sơ vụ án.

    - Đối với số tiền 300.000.000 đồng Dương Mạnh T đã tự nguyện nộp đồng để khắc phục hậu quả; số tiền 34.265.918 đồng Nguyễn Trọng L tự nguyện nộp là tiền hưởng chênh lệch từ việc bán hoá đơn khống cho công ty X chuyển Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quế Võ.

Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q, bị can Dương Mạnh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên.

Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q, Dương Mạnh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 40/CT-VKSQV ngày 06/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ truy tố Dương Mạnh T về tội “Trốn thuế” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 200 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ phân tích lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với vật chứng thu giữ được và toàn bộ các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cũng như xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Dương Mạnh T phạm tội “Trốn thuế”.

Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 200; điểm b,i,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Dương Mạnh T từ 15 (Mười lăm) tháng tù đến 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự: Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Buộc bị cáo phải nộp số tiền trốn thuế là 802.531.050 đồng. Xác nhận bị cáo đã nộp tại Cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án số tiền 612.000.000đ. Bị cáo còn phải nộp số tiền 190.531.000đ (làm tròn) sung ngân sách nhà nước.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 34.265.918đ tiền thu lợi từ việc bán hóa đơn cho Công ty X của ông Nguyễn Trọng L. (Xác nhận ông L đã nộp 34.300.000đ). Số tiền nộp dư, ông L từ chối nhận lại nên cần sung ngân sách nhà nước.

Lưu giữ theo hồ sơ vụ án 17 số hóa đơn GTGT gồm 10 số hóa đơn GTGT (liên 2) của Công ty T2; 03 hóa đơn GTGT (liên 2) của công ty R; 03 số hóa đơn GTGT của Công ty K; 01 số hóa đơn GTGT (liên 2) của công ty X1.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nhận tội không tham gia tranh luận đối với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thị xã Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định cuả Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định cuả Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai tại cơ quan điều tra cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Từ tháng 12/2018 đến tháng 8/2022, Dương Mạnh T – Giám đốc công ty TNHH X, đã có hành vi mua 17 số hóa đơn GTGT không có hàng hóa kèm theo của 04 công ty gồm công ty T2 số hóa đơn GTGT; công ty TNHH R số hóa đơn GTGT; công ty TNHH K số hóa đơn GTGT và 01 số hóa đơn GTGT của công ty TNHH X1, với tổng số tiền hàng trước thuế là 8.025.310.487 đồng, tiền thuế GTGT là 802.531.050 đồng để hợp thức hóa cho việc mua trôi nổi các sản phẩm là đất, đá, sỏi, base... trên thị trường không có hóa đơn GTGT đầu vào, làm giảm số tiền thuế phải nộp cho ngân sách Nhà nước. Hành vi của Dương Mạnh T là hành vi trốn thuế GTGT với số tiền là 802.531.050 đồng.

Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra, vật chứng thu giữ được cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ. Do vậy, có đủ cơ sở kết luận Dương Mạnh T phạm tội “Trốn thuế” theo điểm b khoản 2 Điều 200 của Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ quản lý thuế của nhà nước, làm giảm thu ngân sách nhà nước, xâm hại đến đường lối phát triển kinh tế xã hội, chính sách thuế, gây mất trật tự xã hội, gây dư luận xấu trong nhân dân. Do vậy, cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải và tự nguyện giao nộp số tiền 612.000.000đ để khắc phục hậu quả. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã tới cơ quan Công an đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b,i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Hội đồng xét xử xét thấy hành vi bị cáo thực hiện thuộc nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, cụ thể là vi phạm trong lĩnh vực thuế, tài chính. Bị cáo cũng đã khắc phục được trên ¼ số tiền trốn thuế, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, có đủ các điều kiện theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/QN-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Xét bị cáo có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được tự cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương, gia đình cũng đủ để giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Hiện tại công ty X làm ăn gặp nhiều khó khăn, bản thân bị cáo hiện là lao động chính trong gia đình và đang nuôi dưỡng 03 con nhỏ nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo là phù hợp.

Về vật chứng: Đối với số tiền bị cáo trốn thuế là 802.531.050 đồng cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền bán hóa hóa đơn của ông L cho Công ty X cần tịch thu sung ngân sách nhà nước. Xác nhận hiện ông L đã nộp 34.300.000đ. Sau khi đối trừ thì ông L nộp thừa là 34.082đ, ông L tự nguyện nộp nộp số tiền này vào ngân sách nhà nước và không có yêu cầu nhận lại nên cần sung ngân sách nhà nước số tiền này là phù hợp.

Đối với số hóa đơn, chứng từ cơ quan điều tra thu giữ của công ty X cần được lưu giữ theo hồ sơ vụ án.

- Đối với hành vi bán trái phép 10 số hoá đơn ghi đầy đủ nội dung của Nguyễn Trọng L để hưởng lợi số tiền 34.265.918 đồng. Hành vi của Nguyễn Trọng L đã vi phạm vào khoản 1, Điều 203 Bộ luật hình sự 2015 quy định. Tuy nhiên, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 9 Bộ luật Hình sự 2015định phân loại về tội phạm ít nghiêm trọng, căn cứ điểm a khoản 2 Điều 27 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm ít nghiêm trọng, căn cứ vào nhân thân lý lịch, kết quả tra cứu tiền án, tiền sự của Nguyễn Trọng L. Xét thấy đến nay đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội của Nguyễn Trọng L. Do vậy, cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Trọng L có căn cứ.

- Đối với người phụ nữ tên L1 đã cùng Nguyễn Trọng L bán hóa đơn GTGT khống cho công ty X. Quá trình điều tra Nguyễn Trọng L khai nhận không rõ tên tuổi địa chỉ của người này. Cơ quan điều tra chưa xác định được danh tính nên sẽ tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

- Đối với những người Dương Mạnh T liên hệ để mua hóa đơn GTGT khống. Quá trình điều tra Dương Mạnh T khai nhận không quen biết, không biết tên tuổi địa chỉ của những người này cũng không lưu số điện thoại và không nhớ số điện thoại liên hệ. Hiện tại, Cơ quan điều tra chưa xác định được danh tính nên sẽ tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

- Đối với những người rút tiền từ tài khoản của Công ty R, Công ty K, Công ty X1 có dấu hiệu liên quan đến việc mua bán trái phép hóa đơn GTGT. Hiện tại, cơ quan điều tra chưa nhận được đầy đủ tài liệu đã yêu cầu các cơ quan tổ chức cung cấp nên chưa có đủ căn cứ xác định hành vi vi phạm pháp luật của những người này. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

- Đối với Nguyễn Ngọc Q, Nguyễn Thị Hồng N, Nguyễn Thị Vân A, Bùi Văn T1 là những người đứng tên sở hữu và đại diện theo pháp luật của Công ty T2, công ty TNHH R, công ty K, Công ty X1 không phải là người thành lập công ty và không liên quan gì đến hoạt động vi phạm pháp luật tại các công ty này. Cơ quan CSĐT không xem xét xử lý là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Dương Mạnh T phạm tội “Trốn thuế".

Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 200; điểm b,i,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Dương Mạnh T 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Dương Mạnh T cho UBND phường N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Toà án có thể quyết định buộc người đó chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68; Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 802.531.050đ (Tám trăm linh hai triệu năm trăm ba mươi mốt nghìn không trăm năm mươi đồng). Xác nhận bị cáo đã nộp 612.000.000đ (Sáu trăm mười hai triệu đồng). Trong đó, bị cáo nộp số tiền 100.000.000đ vào số TK 3949.0.9081988.000 của Công an thị xã Q tại KBNN thị xã Q theo giấy nộp tiền ngày 12/02/2025, hiện số tiền được chuyển cho Chi cục thi hành án dân sự thị xã Quế Võ theo biên lai thu số 0001185 ngày 25/02/2025; Bị cáo nộp 200.000.000đ (Hai trăm triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 0001219 ngày 25/02/2025 của Chi cục thi hành án thị xã Quế Võ; Bị cáo nộp 312.000.000đ (Ba trăm mười hai triệu đồng) theo biên lai thu số 0002797 ngày 10/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quế Võ. Số tiền bị cáo đã nộp được trừ vào số tiền bị cáo phải chấp hành. Bị cáo phải nộp tiếp số tiền 190.531.000đ (Một trăm chín mươi triệu năm trăm ba mươi mốt nghìn đồng) (làm tròn).

Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 34.300.000đ (Ba mươi tư triệu ba trăm nghìn đồng) của ông Nguyễn Trọng L (trong đó 34.265.918đ là tiền ông L thu lời từ việc bán hóa đơn và 34.082đ ông L nộp thừa và từ chối nhận lại). Xác nhận ông L đã nộp 34.300.000đ tại cơ quan Công an thị xã Q, hiện đã được chuyển cho Chi cục thi hành án dân sự thị xã Quế Võ theo biên lai thu số 0001185 ngày 25/02/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Quế Võ.

Lưu giữ theo hồ sơ vụ án 17 số hóa đơn GTGT gồm 10 số hóa đơn GTGT (liên 2) của Công ty T2; 03 hóa đơn GTGT (liên 2) của công ty R; 03 số hóa đơn GTGT của Công ty K; 01 số hóa đơn GTGT (liên 2) của công ty X1.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Dương Mạnh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh, VKS tỉnh Bắc Ninh;
  • - Sở Tư pháp Bắc Ninh;
  • - Viện kiểm sát ND thị xã Quế Võ;
  • - Chi cục THA thị xã Quế Võ;
  • - UBND phường Nhân Hòa;
  • - Bị cáo, những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thị Liên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 113/2025/HSST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH về vụ án hình sự về tội trốn thuế

  • Số bản án: 113/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Trốn thuế
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Dương Mạnh T - Trốn thuế
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger