Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC NINH

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 113/2025/HS-ST

Ngày: 25/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trường Trung.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Duyên

Ông Trần Xuân Bằng

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quốc Huy

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 129/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 133/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Duy L, sinh năm 1990;

HKTT: Khu T, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; tổ chức đoàn thể: không; con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1961; con bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1962; gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ ba; vợ, con: Chưa có;

Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/12/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực thành phố B – Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Duy L là đối tượng sử dụng ma túy từ khoảng năm 2022. Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 13 tháng 12 năm 2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên L đi xe ôm của một người không quen biết từ nhà ở khu T, phường V, thành phố B đến khu vực tỉnh Bắc Giang (L không nhớ địa chỉ cụ thể) để tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Tại đây, L gặp một người đàn ông không quen biết trông giống người nghiện đứng ở bên đường nên L xuống xe và đi bộ đến gần hỏi mua của người đàn ông 200.000 đồng ma túy “đá, ngựa”, người đàn ông đồng ý. L đưa cho người đàn ông 200.000 đồng, người đàn ông đưa cho L 01 túi nilong màu trắng, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng và 01 viên nén màu đỏ. L biết đây là ma túy Methamphetamine nên cầm ở tay trái rồi ra chỗ người lái xe ôm đang chờ và bảo người này chở về thành phố B. Khi đến khu B phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh, L xuống xe ôm và đi bộ để tìm nơi sử dụng. Khi vừa đi được một đoạn thì bị lực lượng công an kiểm tra bắt quả tang.

Quá trình bắt, lực lượng Công an thu giữ tại tay trái Nguyễn Duy L 01 túi nilong màu trắng, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng và 01 viên nén màu đỏ. Tổ công tác tiến hành niêm phong vật chứng theo quy định.

Tại bản Kết luận giám định số 2910/KL-KTHS ngày 15/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

  • + Chất tinh thể màu trắng bên trong 01 (một) túi nilong màu trắng có khối lượng là 0,1420 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Methamphetamine.
  • + 01 (một) viên nén màu đỏ bên trong 01 (một) túi nilong màu trắng có khối lượng là 0,0996 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Methamphetamine.

Methamphetamine là chất ma túy được quy định tại Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất”

Tại Bản Cáo trạng số 73/CT-VKSTPBN ngày 07/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Duy L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự

Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu và thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích hành vi phạm tội, căn cứ vào nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Duy L từ 14 đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 13/12/2024

Do bị cáo không có tài sản, nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

Về vật chứng:

  • - Đề nghị tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định

Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Duy L không có ý kiến tranh luận với Đại diện Viện kiểm sát chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã nêu. Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại phiên tòa và những tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 11 giờ ngày 13/12/2024, Nguyễn Duy L có hành vi tàng trữ 0,2416 gam ma túy Methamphetamine để sử dụng cho bản thân. Với hành vi trên, Nguyễ Duy L1 đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh đã truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho L1 tại khu vực tỉnh Bắc Giang, L1 không biết rõ tên tuổi, địa chỉ của người này. Cơ quan cảnh sát điều tra chưa xác minh được nên chưa xử lý. Đề nghị Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra xác minh để xử lý theo quy định.

Đối với người lái xe ôm chở L1 đi mua ma túy, người này không biết L1 thực hiện việc tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân. L1 cũng không biết tên tuổi địa chỉ của người này nên cơ quan công an không đề cập xử lý là phù hợp.

[3]. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà N về quản lý các chất ma túy. Hành vi của bị cáo tạo điền kiện thúc đẩy tệ nạn ma túy trong xã hội, gây mất trật tự, an toàn xã hội trị an tại địa phương, gây bức xúc và hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Đặc biệt, tệ nạn ma túy còn là nguyên nhân thúc đẩy nhiều loại tội phạm khác và lây truyền các bệnh nguy hiểm nhất là đại dịch HIV/AIDS. Do vậy, hội đồng xét xử thấy cần phải có một hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài mới đảm bảo giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Do bị cáo không có tài sản riêng, không có công ăn việc làm ổn định. Nên xét thấy không cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo và thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Bị cáo có ông là liệt sỹ và được nhà nước tặng hưởng nhiều huân huy chương. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và cần được áp dụng cho bị cáo khi lượng hình để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

[5]. Về vật chứng:

Đối với mẫu vật còn lại sau giám định là vật nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy

[6]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, 136, 329, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về lệ phí, án phí:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy L 16 tháng (mười sáu tháng) tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (13/12/2024).

Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Duy L trong thời hạn 45 ngày tính từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án

2. Về vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư được niêm phong dán kín đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định theo Kết luận giám định số 2910/KL-KTHS ngày 15/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh B

Những tài sản, vật chứng trên được mô tả tại Biên bản giao nhận tài sản, vật chứng số 104 ngày 05/3/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.

3. Bị cáo Nguyễn Duy L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

THÀNH PHẦN HĐXX THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Duyên

Phạm Trường Trung

Trần Xuân Bằng

Nơi nhận:

  • -TAND T. Bắc Ninh;
  • -VKSND T. Bắc Ninh;
  • -VKSND TP. Bắc Ninh;
  • -CA T. Bắc Ninh;
  • -Chi cục THA TP Bắc Ninh;
  • -Trại tạm giam CA tỉnh B.Ninh;
  • -Bị cáo; Người bào chữa;
  • -Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Trường Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 113/2025/HS-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 113/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Duy L tàng trữ 0,2416 gam Methamphetamine để sử dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger