TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
| CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
Bản án số: 113/2025/HS-ST Ngày: 03 - 3 -2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Đông;
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Đăng Vạn;
- Ông Mai Thanh Giàu;
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Tân, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Ngụy Khắc V - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai, vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 45/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 118/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Đỗ Văn D. Giới tính: Nam.
Tên gọi khác: Tí Mi.
Ngày sinh: 01/01/1974. Tại: Thành phố Hồ Chí Minh.
Nơi thường trú: 67 Đường B, Khu phố A, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không.
Học vấn: 07/12 Nghề nghiệp: Không.
Cha: Đỗ Mi S năm 1940.
Mẹ: Trần Thị T Sinh năm 1940 (đã chết).
Bị cáo là con út trong gia đình có 06 chị em. Lớn nhất sinh năm 1964.
Vợ: Không rõ.
Bị cáo có 01 con tên Đỗ Gia H.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 17/4/2000, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt Đỗ Văn D 10 năm tù giam, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo Bản án số 1075/HSST. Ngày 20/4/2000, D có đơn kháng cáo. Ngày 18/8/2000 Tòa phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt D 08 năm tù giam theo Bản án số 1916/HSPT (Bút lục: 199-122).
- Ngày 05/7/2000, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt Đỗ Văn D 07 năm tù giam, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số 1755/HSST. Ngày 10/7/2000, D có đơn kháng cáo. Ngày 03/11/2000, Tòa án phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt D 07 năm tù giam theo Bản án số 2846/HSPT. Cộng với hình phạt 08 năm tù tại Bản án số 1916/HSPT ngày 18/8/2000 buộc D phải chấp hành hình phạt của cả hai Bản án là 15 năm tù. Ngày 26/4/2010, D chấp hành xong hình phạt tù. Xác minh án phí của hai Bản án số 1916/HSPT và 2846/HSPT tại Chi cục Thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh cho kết quả: Không có thông tin về các Bản án và thông tin về việc thi hành án dân sự của Đỗ Văn D đối với các Bản án trên (Bút lục: 123-131).
- Ngày 04/8/2015, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường P, quận T (nay là thành phố T) ra Quyết định về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã, phường, thị trấn đối với Đỗ Văn D. Ngày 05/02/2016 thì chấp hành xong (Bút lục: 116-118).
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/03/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 29/02/2024, Tổ tuần tra Công an phường P, thành phố T, phối hợp cùng Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, Công an thành phố T, tuần tra đến trước địa chỉ số B, đường B, khu phố D, phường P, thành phố T phát hiện Đỗ Văn D điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha, Novou, màu trắng biển số 63B8-601.09 có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện bên trong túi quần trước bên phải đang mặc của D có 01 vỏ bao thuốc lá hiệu JET bên ngoài có dán băng keo màu xanh bên trong có 01 gói nylon chứa ma túy đá nên Tổ công tác đưa D cùng tang vật, phương tiện về trụ sở công an phường lập biên bản phạm tội quả tang.
Quá trình điều tra chứng minh được: Ngày 23/02/2024, D đón xe bus đi đến trước địa chỉ số A N, Khu phố E, Phường B, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh, sau đó D xuống xe đi bộ đến một con hẻm (không nhớ địa chỉ) sử dụng điện thoại di động hiệu Oppo có số sim 0868925733 gọi điện thoại cho một người tên H1 có số điện thoại 0899.369.xxx (không rõ lai lịch) hỏi mua 300.000 đồng ma tuý đá. Khoảng 15 phút sau H1 đến gặp D đưa cho D 01 gói ma túy đá để trong gói thuốc lá JET. Sau khi mua được ma túy, D đón xe buýt về phòng 315 khách sạn Đ, địa chỉ số A, đường A, khu phố D, phường P, thành phố T mà D đã thuê trước đó lấy một ít ma túy đá ra sử dụng. Đến ngày 28/02/2024, D tiếp tục lấy một ít ma túy đá trong gói nylon ra bỏ vào trong nỏ và cầm bình lên dùng bật lửa đốt lên sử dụng khoảng 01 hơi, sau khi sử dụng ma túy xong D để bình sử dụng ma túy xuống bàn gỗ gần tủ lạnh. Khoảng 13 giờ ngày 28/02/2024, D gọi điện thoại cho Nguyễn Văn H2 (sinh năm 1975) nhờ H2 mua dùm 02 cục pin rờ mót máy lạnh đem đến phòng 315 khách sạn Đ cho D thì H2 đồng ý. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, H2 đến khách sạn Đ1 vào phòng 315 đưa 02 cục pin cho D rồi nằm trên giường bấm điện thoại, còn D đi làm việc nhà. Lúc này, H2 nhìn thấy bình sử dụng ma túy để ở trên bàn gỗ gần tủ lạnh nên H2 tự cầm bình lên thì thấy trong bình còn ma túy đá (trước đây H2 đã từng sử dụng ma túy đá) nên H2 lấy quẹt ga đốt lên sử dụng 01 đến 02 hơi rồi bỏ B xuống chỗ cũ và trong lúc H2 sử dụng ma túy D nhìn thấy nhưng không nói gì và tiếp tục dọn nhà.
Đến khoảng 20 giờ 30 phút ngày 29/02/2024, D lấy 01 gói nylon chứa ma túy đá còn lại dùng băng keo màu xanh dán bên ngoài vỏ bao thuốc lá Jet rồi để vào trong túi quần phía trước bên phải đang mặc và điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Novou, biển số 63B-8601.09 đi gặp H2. Khi D đi đến trước Trường mầm non H3, địa chỉ số B, đường B, khu phố D, phường P, thành phố T thì bị Tổ tuần tra Công an phường P kiểm tra thu giữ gói ma túy trên.
Kết quả xét nghiệm chất ma túy đối với Đỗ Văn D và Nguyễn Văn H2 đều cho kết quả dương tính với ma túy Methamphetamine (Bút lục: 104;107).
Kết luận giám định số 3067/KL-KTHS ngày 06/03/2024 của Phòng K - Công an Thành phố H, kết luận: 01 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2061 gam, loại Methamphetamine (Bút lục: 61-62).
* Thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng (Bút lục: 66; 76-77):
- 01 gói nylon bên trong có mẫu vật còn lại, sau khi giám định đã được niêm phong ghi vụ số 947/24 có chữ ký của Giám định viên Võ La Bảo Y và Cán bộ điều tra ghi tên Nguyễn Thị Phương M.
- 01 xe mô tô hiệu Yamaha, Novou, màu trắng biển số 63B8-601.09 (đã qua sử dụng). Qua xác minh xe trên do Trương Văn Xuân M1 đứng tên chủ sở hữu. Năm 2017, anh M1 cho chị Nguyễn Ngọc B1 quản lý và sử dụng nên anh M1 không có yêu cầu gì đối với xe trên. Đỗ Văn D khai xe trên D mượn của người em ngoài xã hội tên X (không rõ lai lịch). Do đến nay chưa làm việc được với X để làm rõ nguồn gốc xe trên nên chuyển Tòa án xử lý theo quy định (Bút lục: 93-94; 101-102).
- 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu vàng, (kính màn hình bị nứt không mở được);
- 01 vỏ bao thuốc lá Zét phía bên ngoài có dán 01 đoạn băng keo màu xanh;
- 01 vỏ bao thuốc lá Zét;
- 01 đoạn ống thủy tinh (nỏ);
- 01 ống hút bằng nhựa màu trắng;
- 01 chai nước ngọt bằng nhựa;
- 01 đoạn ống hút bằng nhựa được cắt nhọn 01 đầu;
(Vật chứng đang lưu kho theo Biên bản giao nhận tang tài vật số 155C ngày 17/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức)
Cáo trạng số: 63/CT-VKSTPTĐ ngày 13 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố bị cáo Đỗ Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c Khoản 1 Điều 249 và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2915 sửa đổi bổ sung năm 2017;
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T giữ nguyên nội dung Bản cáo trạng số 63/CT-VKSTĐ ngày 13/01/2025 và đề nghị:
Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; xử phạt: Đỗ Văn D 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Áp dụng Khoản 1 Điều 255; xử phạt: Đỗ Văn D 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”;
Vật chứng vụ án: Đề nghị Hội đồng xử lý theo Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Trách nhiệm chịu án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi thực hiện tố tụng; Quyết định tiến hành tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo xác nhận không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xem xét hành vi phạm tội của các bị cáo. Do vậy; Hội đồng tiếp tục xét xử theo khoàn 2 Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
[2] Lời khai của bị cáo Đỗ Văn D tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; biên bản bắt người và các chứng cứ, tang vật khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 29/02/2024, tại trước địa chỉ số B, đường B, khu phố D, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Cơ quan Cảnh sát điều tra bắt quả tang Đỗ Văn D tàng trữ 0,2061g ma túy, loại Methamphetamine với mục đích sử dụng. Hành vi của Đỗ Văn D đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Ngày 28/02/2024, Đỗ Văn D gọi Nguyễn Văn H2 đến nơi mình ở, tại phòng 315 khách sạn Đ, địa chỉ số A, đường A, khu phố D, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, để sẵn ma túy, công cụ trên bàn cho Nguyễn Văn H2 sử dụng. Hành vi của Đỗ Văn D đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đối với người tên “Hai”, bán ma túy cho Đỗ Văn D, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
[3] Bị cáo nhất trí với tội danh, điều luật, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đã truy tố và luận tội tại phiên tòa. Như vậy, Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền quản lý các chất gây nghiện của cơ quan nhà nước, không đúng nếp sống văn minh của xã hội. Bị cáo là người có thời gian dài đi tù về các tội danh nêu trên, nhưng không sửa đổi nay tiếp tục phạm tội. Do vậy; phải có hình phạt nghiêm khắc đối với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên xét bị cáo thành khẩn khai báo nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
[5] Về vật chứng: Áp dụng Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
Tịch thu tiêu hủy các công cụ, phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội:
Tịch thu sung công quỹ nhà nước:
[6] Về trách nhiệm dân sự:
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào Điều 249; Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”;
Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; Khoản 1 Điều 255 điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt Đỗ Văn D 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt Đỗ Văn D 03 (Ba) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy"
Áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 55 tổng hợp hình phạt buộc Đỗ Văn D chấp hành hình phạt chung tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là 05 (Năm) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 01/3/2024.
2. Căn cứ vào Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy các công cụ, phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội: 01 gói nylon bên trong có mẫu vật còn lại, sau khi giám định đã được niêm phong ghi vụ số 947/24 có chữ ký của Giám định viên Võ La Bảo Y và Cán bộ điều tra ghi tên Nguyễn Thị Phương M. 01 vỏ bao thuốc lá Zét phía bên ngoài có dán 01 đoạn băng keo màu xanh; 01 vỏ bao thuốc lá Zét; 01 đoạn ống thủy tinh (nỏ); 01 ống hút bằng nhựa màu trắng; 01 chai nước ngọt bằng nhựa; 01 đoạn ống hút bằng nhựa được cắt nhọn 01 đầu;
Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 xe mô tô hiệu Yamaha, Novou, màu trắng biển số 63B8-601.09; 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu vàng.
(Vật chứng đang lưu kho theo Biên bản giao nhận tang tài vật số 155C ngày 17/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức;
3. Căn cứ Điều 106;135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc:
Đỗ Văn D phải chịu 200,000₫ (Hai trăm ngàn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm;
4. Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Đông |
Bản án số 113/2025/HS-ST ngày 03/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 113/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 03 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai, vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 45/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 01 năm 2025
