Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 113/2025/HS-ST

Ngày: 11-3-2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Anh Đức.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Chánh.
  • Bà Huỳnh Thị Kim Kiên.
  • Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 99/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 156/2025/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Ngọc Hà Cẩm G, sinh ngày 11 tháng 4 năm 2003 tại Đồng Nai; Nơi thường trú: tổ A, khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: tổ A, khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 08/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Ngọc M, sinh năm: 1953 và bà Hà Thị M1, sinh năm: 1955; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ 2 trong gia đình; sống chung như vợ chồng với Dương Chí C, sinh năm 1998 và có 02 con đều sinh ngày 22/11/2024;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/10/2024 đến ngày 04/10/2024 thì bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Ngọc Hà Cẩm G là người sử dụng trái phép chất ma túy.

Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 03/10/2024, Nguyễn Ngọc Hà Cẩm G đang đứng trước phòng trọ của mình tại tổ A, khu phố L, phường T, thành phố B thì gặp đối tượng tên Đ (không rõ nhân thân, lai lịch) đi ngang qua. Do biết Đ là người bán ma túy nên G hỏi Đ có ma túy bán không thì Đ đồng ý, nên G đưa cho Đ số tiền 500.000 đồng. Sau đó, Đ cầm tiền đi khoảng 15 phút thì quay về đưa cho G một gói nilon bên trong có chứa chất màu trắng. Sau khi nhận được ma túy từ Đ, G cất giấu vào trong hộp thuốc lá bằng kim loại nhãn hiệu Thăng Long và để trên bàn trong phòng trọ. Đến khoảng 22 giờ 20 phút cùng ngày, Công an phường T kiểm tra hành chính phòng trọ của G thì phát hiện gói ma túy mà G cất giấu.

Vật chứng thu giữ:

  • - 01 gói nilon chứa chất màu trắng.
  • - 01 hộp thuốc lá bằng kim loại nhãn hiệu Thăng Long.

Bản kết luận giám định số 1989/KL-KTHS ngày 09/10/2024, Giám định viên Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận:

“Mẫu chất màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 1,3862gam, loại: Methamphetamine”.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Ngọc Hà Cẩm G thừa nhận hành vi mua 01 gói ma túy với giá 500.000 đồng chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Ngọc Hà Cẩm G không có ý kiến khiếu nại đối với các quyết định, hành vi của cơ quan, người tiến hành tố tụng cũng như Kết luận giám định số 1989/KL-KTHS ngày 09/10/2024 của phòng K Công an tỉnh Đ.

Bản cáo trạng số 141/CT-VKSBH ngày 12/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc Hà Cẩm G về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Ngọc Hà Cẩm G thừa nhận hành vi mua 01 gói ma túy loại Methamphetamine có khối lượng là 1,3862gam để sử dụng thì bị phát hiện là phù hợp với nội dung bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố.

Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Ngọc Hà Cẩm G về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017);
  • Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc Hà Cẩm G từ 18 (mười tám) tháng tù đến 24 (hai mươi bốn) tháng tù.
  • Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Đề nghị tịch thu tiêu hủy số lượng ma túy sau khi giám định có khối lượng 1,2749gam đã được niêm phong số 1989/KL-KTHS và 01 hộp thuốc lá bằng kim loại nhãn hiệu Thăng Long của bị cáo sử dụng chứa ma túy.

  • - Về án phí: Buộc bị cáo chịu án phí theo quy định pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Ngọc Hà Cẩm G không trình bày lời nói sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

  2. Trên cơ sở tài liệu chứng cứ và lời khai của bị cáo có đủ cơ sở xác định: Khoảng 22 giờ 20 phút ngày 03/10/2024, tại tổ A, khu phố L, phường T, thành phố B, Nguyễn Ngọc Hà Cẩm G có hành vi cất giấu gói ma túy đã mua để sử dụng thì bị bắt quả tang.

  3. Tại Bản kết luận giám định số 1989/KL-KTHS ngày 09/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: “Mẫu chất màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 1,3862 gam, loại Methamphetamine”.

  4. Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Ngọc Hà Cẩm G đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung là “...Heroine,...có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

  5. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý về các chất ma túy của Nhà nước, bản thân bị cáo là người sử dụng ma túy, hiểu rất rõ tác hại của chất ma túy, là nguyên nhân và mầm móng lây truyền căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS, đồng thời cũng là nguồn gốc phát sinh các loại tội phạm khác nhưng các bị cáo bất chấp quy định cấm của pháp luật vẫn cố ý phạm tội. Do đó, cần có mức hình phạt thật nghiêm để cải tạo, răn đe đối với bị cáo cũng như phòng ngừa tội phạm nói chung.

  6. Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự.

  7. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

  8. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; thời điểm phạm tội bị cáo đang mang thai và hiện nay đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

  9. Về xử lý vật chứng:

    • - Gói ma túy (loại Methamphetamine) là mẫu vật hoàn lại sau giám định, đã được niêm phong số 1989/KL-KTHS có khối lượng 1,2749gam là vật Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành và hộp thuốc lá bằng kim loại nhãn hiệu Thăng Long sử dụng cất giấu ma túy không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
  10. Về vấn đề khác:

    • Đối với người tên Đ (chưa rõ nhân thân, lai lịch) có hành vi bán ma túy cho Nguyễn Ngọc Hà Cẩm G, đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ để xử lý theo quy định.
  11. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc Hà Cẩm G về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

  12. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc Hà Cẩm G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    • - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017);

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc Hà Cẩm G 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/10/2024 đến ngày 04/10/2024.

  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

    Tịch thu tiêu hủy gói ma túy (loại Methamphetamine) là mẫu vật hoàn lại sau giám định, đã được niêm phong số 1989/KL-KTHS ngày 09/10/2024 có khối lượng 1,2749gam là vật Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành và 01 hộp thuốc lá bằng kim loại nhãn hiệu Thăng Long sử dụng cất giấu ma túy không có giá trị sử dụng.

    (Số vật chứng đang lưu giữa tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 10/3/2025).

  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Luật phí và lệ phí năm 2015; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc Hà Cẩm G phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Ngọc Hà Cẩm G được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa;
  • - Cơ quan điều tra Công an TP. Biên Hòa;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự TP. Biên Hòa;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự TP. Biên Hòa;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trần Anh Đức

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 113/2025/HS-ST ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 113/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Hà Cẩm G bị xét xử về hành vi "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger