|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 113/2025/HS-ST Ngày: 16/6/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Nam Phương.
Thẩm phán: Ông Nguyễn Xuân Quang.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Chiến.
Bà Nguyễn Thị Chi.
Bà Phan Thị Ngọc Hiền.
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Kim Hải - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai: Ông Nguyễn Văn Bằng - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 90/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 97/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2025, Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 301/TB-TA ngày 28 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Mohamad A.
Sinh năm 1994 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tên gọi khác: không. Giới tính: Nam. Căn cước công dân số [...] do Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 17/6/2022. Nơi thường trú: 9 H, phường A, quận P, thành phố Hồ Chí Minh. Nơi ở hiện nay: tổ A, khu phố R, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Chăm. Tôn giáo: Hồi giáo. Trình độ học vấn: Lớp 9/12. Nghề nghiệp: tự do. Con ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1973 và bà Muahamath A1, sinh năm 1974. Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con đầu trong gia đình; có vợ tên Võ Ngọc N, sinh năm 1999 (đã ly hôn năm 2024) và có 02 con, lơn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2019.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ tư ngày 24/7/2024, chuyển tạm giam theo Lệnh tạm giam số 500/LTG-CSĐT-HS ngày 26/7/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, tỉnh Đồng Nai. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ.
- Người bào chữa theo chỉ định của bị cáo Nguyễn Mohamad A: Luật sư Nguyễn Thị Phương M – Văn phòng Luật sư Cao Đức N1, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ; Địa chỉ: Số B, Đường C, phường Q thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Bị hại:
- Bà Trần Thị Bảo T1, sinh năm 1994; Địa chỉ: Ấp T, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng. (SĐT: 0396.970.xxx)
- Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1985; Địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai. (SĐT: 0971.430.xxx)
- Ông Huỳnh Tiến D, sinh năm 1979; Địa chỉ: Số A Đường N, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (SĐT: 0907.158.xxx)
(Bị cáo, luật sư, bị hại có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Mohamad A không có khả năng, điều kiện làm thủ tục cho người khác đi xuất khẩu lao động, định cư, du học ở nước ngoài nhưng do cần tiền tiêu xài cá nhân, A đưa ra nhiều thông tin gian dối mình có thể làm được để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của nhiều người, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Vào khoảng cuối năm 2022, A quen biết với chị Trần Thị Bảo T1, sinh năm 1994, ngụ tại ấp T, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng trên chuyến bay từ Hà Nội vào Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, A và chị T1 cho nhau số điện thoại để trao đổi. Arafath giới thiệu mình làm dịch vụ hộ chiếu và V nên chị T1 nhờ A làm Visa cho chị T1 sang nước Úc lao động và làm hồ sơ du học cho con trai chị T1 là Phạm Hưng P đi du học tại nước Úc thì A đồng ý. Từ ngày 15/01/2023 đến ngày 26/6/2023, chị T1 chuyển khoản 16 lần với tổng số tiền là 412.600.000 đồng từ tài khoản của chị T1 số [...] tại ngân hàng V1 vào số tài khoản 62010000940318 tại ngân hàng B của Nguyễn Mohamad A. Sau khi chiếm đoạt tiền, A sử dụng tiêu xài cá nhân và đưa ra nhiều lý do không làm hồ sơ cho chị T1.
Vụ thứ hai: Tháng 4/2023, thông qua chị T1 giới thiệu, chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1985, ngụ tại ấp C, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai quen biết Arafath. Arafath cũng tự giới thiệu bản thân có thể làm hộ chiếu, xin Visa cho người khác đi nước ngoài. Do có nhu cầu, chị H đã nhờ A làm thủ tục cho chị H đi xuất khẩu lao động tại nước Úc. A đồng ý làm thủ tục cho chị H đi lao động và ở lại định cư tại Úc với số tiền 230.000.000 đồng, thời hạn làm thủ tục là 12 tháng. Sau đó khoảng 02 tuần, chị H tiếp tục nhờ A làm thủ tục cho em ruột chị H là Nguyễn Thị Ngọc N2, sinh năm 1988, ngụ tại tổ C, ấp C, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai đi lao động và được định cư tại nước Úc thì A đồng ý. Sau đó, A yêu cầu chị H cung cấp thông tin cá nhân của chị H, chị N2 để A làm thủ tục. Qua tìm hiểu, A biết chị H và chị N2 không đủ điều kiện để được đi xuất khẩu lao động tại nước Úc nhưng do muốn chiếm đoạt tiền nên A đã đưa chị H, chị N2 đi khám sức khỏe, đi xét nghiệm máu, lừa dối chị H, chị N2 đi đến Trung tâm tiếp nhận thị thực của nước Ú tại Thành phố Hồ Chí Minh để làm Visa rồi lại nói dối Trung tâm thay đổi lịch hẹn (thực tế Arafath không liên hệ Trung tâm tiếp nhận thị thực của nước Úc tại TP . để làm Visa cho chị H, chị N2), mục đích để chị H tin tưởng chuyển tiền cho A. Trong khoảng thời gian từ ngày 15/4/2023 đến ngày 08/01/2024, do tin tưởng nên chị H đã chuyển khoản tổng số tiền 299.200.000 đồng cho A. Đồng thời, chị H cũng nhờ chị Nguyễn Thị Ngọc N3, sinh năm 1990, ngụ tại tổ C, ấp C, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai (em ruột chị H, đang sinh sống tại Úc) chuyển khoản thêm cho A tổng số tiền 300.442.000 đồng để A làm thủ tục cho chị H và chị N2 đi Úc. Tổng số tiền A chiếm đoạt của chị H là 599.642.000 đồng. Sau khi chiếm đoạt được tiền, A sử dụng tiêu xài cá nhân.
Vụ thứ ba: Gia đình anh Huỳnh Tiến D, sinh năm 1979, ngụ tại A Đường N, phường P, Thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh có nhu cầu sang nước Úc định cư và được chị T1 giới thiệu A có khả năng xin làm được visa. Chị T1 cũng nói chị H, chị N2 đang nhờ A làm thủ tục đi xuất khẩu lao động và định cư tại Úc. Sau đó, anh D liên hệ với A qua zalo của A được tạo từ số điện thoại 0916.957.xxx để trao đổi. Arafath giới thiệu mình làm ở Công ty luật, có khả năng làm thủ tục giúp 03 người trong gia đình anh D gồm anh D, vợ anh D, con trai út anh D được sang nước Úc định cư với tổng chi phí kho ảng 156.280.000 đồng, hứa hẹn trong khoảng thời gian từ ngày 24/02/2023 đến ngày 15/01/2024 sẽ hoàn tất hồ sơ và ra Visa cho gia đình anh D, đồng thời A yêu cầu anh D phải thanh toán trước số tiền 78.140.000 đồng. Tin lời, anh D đã chuyển khoản và đưa tiền mặt tổng số tiền 78.140.000 đồng trước cho A. Để chiếm đoạt thêm tiền, A yêu cầu anh D cung cấp thông tin cá nhân và dẫn gia đình anh D đến một phòng khám ở quận B, thành phố Hồ Chí Minh để khám sức khỏe đưa vào hồ sơ, thời điểm này, anh D đưa thêm tiền mặt cho A số tiền 39.070.000 đồng. Trong khoảng thời gian chờ Arafath làm thủ tục, anh D nhờ A làm thêm thủ tục cho cháu anh D là Phạm Mai Bá P1, sinh năm 2003, ngụ tại 1914, tổ D, ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai đi xuất khẩu lao động tại nước Úc. A đồng ý và hứa sẽ hoàn thành trong khoảng thời gian từ tháng 4/2023 đến tháng 12/2023, hoàn tất hồ sơ ra Visa. Sau đó, anh D tiếp tục đưa tiền mặt và chuyển khoản tổng số tiền 93.340.000 đồng cho A. Sau khi nhận tiền, A thường xuyên nhắn tin hứa hẹn với gia đình anh D về việc lăn tay làm Visa, đưa ra nhiều lý do dẫn đến trễ hẹn, không làm thủ tục cho gia đình anh D đúng hẹn. Riêng trường hợp của P1 thì A hẹn đến Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh để lăn tay nhưng khi P1 đến điểm hẹn, chờ cả ngày không được nên quay về và A nói lý do bị dời lịch. Sau đó, anh D nhiều lần liên hệ với A để hỏi các thủ tục liên quan nhưng không được. Số tiền chiếm đoạt, A sử dụng tiêu xài cá nhân.
Tổng số tiền A chiếm đoạt của các bị hại là 1.222.792.000 đồng.
Sau khi biết các bị hại làm đơn tố cáo, ngày 24/7/2024, Nguyễn Mohamad A ra đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội như trên.
Về dân sự:
Bà Trần Thị Bảo T1 yêu cầu bồi thường số tiền 412.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị Thu H yêu cầu bồi thường số tiền 599.642.000 đồng, ông Huỳnh Tiến D yêu cầu bồi thường số tiền 210.000.000 đồng. Hiện bị cáo Nguyễn Mohamad A chưa bồi thường.
Tại bản Cáo trạng số 98/CT-VKSĐN-P2 ngày 09/4/2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Nguyễn Mohamad A về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Mohamad A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và khẳng định Cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" là đúng, không oan sai. Bị cáo mong được xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai:
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Mohamad A về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo quy định tại khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết tăng nặng: Phạm tội 02 lần trở lên.
Tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo, bị cáo đã đầu thú.
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo mức án từ 13 năm đến 15 năm tù giam.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho 03 người bị hại với số tiền như Cáo trạng đã nêu.
Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày:
Thống nhất về tội danh và điều luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ như thành khẩn khai báo, nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự, bị cáo đã ra đầu thú. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự xử bị cáo mức án dưới khung hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án:
Từ tháng 4/2023 đến ngày 29/01/2024, mặc dù không có khả năng, điều kiện làm thủ tục cho người khác đi nước ngoài xuất khẩu lao động, định cư, du học nhưng do cần tiền tiêu xài cá nhân, Nguyễn Mohamad A đưa ra thông tin gian dối mình có thể làm được để chiếm đoạt của bà Trần Thị Bảo T1 số tiền 412.600.000 đồng, bà Nguyễn Thị Thu H số tiền 599.642.000 đồng và ông Huỳnh Tiến D số tiền 210.550.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo chiếm đoạt được của 03 bị hại là 1.222.792.000 đồng đã đủ cơ sở khẳng định Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo Nguyễn Mohamad A về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo quy định tại khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là đúng pháp luật.
Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm chiếm đoạt tài sản của người khác trái pháp luật, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương nên cần xử bị cáo mức án tương xứng nhằm cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Tình tiết tăng nặng: Phạm tội 02 lần trở lên.
Tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã ra đầu thú.
[3] Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Mohamad A phải trả lại cho các bị hại:
Trần Thị Bảo T1: 412.600.000 đồng.
Nguyễn Thị Thu H: 599.642.000 đồng.
Huỳnh Tiến D: 210.550.000 đồng.
[4] Xử lý vật chứng: Tiếp tục tạm giữ 01 điện thoại di động của bị cáo để đảm bảo thi hành án.
[5] Ý kiến và quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.
[6] Ý kiến của Luật sư bào chữa cho bị cáo về các tình tiết giảm nhẹ phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 48.684.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mohamad A phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Mohamad A mức án 13 (Mười ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/7/2024.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 47, 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 579, 580, 584, 589 Bộ luật dân sự.
Buộc bị cáo Nguyễn Mohamad A phải bồi thường số tiền chiếm đoạt cho các bị hại, cụ thể:
Trần Thị Bảo T1: 412.600.000 đồng (Bốn trăm mười hai triệu sáu trăm nghìn đồng).
Nguyễn Thị Thu H: 599.642.000 đồng (Năm trăm chín mươi chín triệu sáu trăm bốn mươi hai nghìn đồng).
Huỳnh Tiến D: 210.550.000 đồng (Hai trăm mười triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng).
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47, 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 12 Promax màu đen của Nguyễn Mohamad A để đảm bảo việc thi hành án.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng NK25/95 ngày 16/4/2025 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai)
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bị hại, nếu bị cáo chậm thi hành số tiền phải bồi thường nêu trên thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 48.684.000 đồng (Bốn mươi tám triệu sáu trăm tám mươi bốn nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Nam Phương |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
Thẩm phán ................................ |
Thẩm phán Chủ toạ phiên toà Hoàng Thị Thu Minh |
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
|
Bản án số 113/2025/HS-ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 113/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo CĐTS
