Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂN UYÊN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 113/2025/HS-ST

Ngày 10-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Huỳnh Anh Thư.

Ông Nguyễn Thanh Cần.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hồng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Phan Tấn Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2025, tại Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 117/2025/TLST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 137/2025/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2025, đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Huỳnh Trường G, sinh năm 1996 tại tỉnh Bình Dương; nơi cư trú: tổ C, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh Đ và bà Huỳnh Thị Cúc H; tiền án: không;

Tiền sự: ngày 03/11/2023, bị Công an phường T, thành phố T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với số tiền 1.500.000 đồng theo Quyết định số 510/QĐ-XPHC, đóng phạt xong vào ngày 16/5/2024 (BL 119-120).

Ngày 05/6/2024, bị bắt và bị tạm giữ, tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực thành phố T cho đến nay; có mặt.

  1. Bùi Thanh P, sinh năm 1998 tại tỉnh Đồng Nai; nơi cư trú: tổ B, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Thanh T và bà Phạm Thị Ngọc K; tiền sự: không;

Tiền án: ngày 25/5/2018, bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương xử phạt 30.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2018/HS-ST; đóng tiền án phí hình sự vào ngày 15/5/2019, đóng phạt vào ngày 17/4/2025 (BL 220-223).

Nhân thân: ngày 19/12/2019, bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng theo Quyết định số 114/2019/QĐ-TA ngày 19/12/2019, chấp hành xong vào ngày 30/12/2020.

Ngày 05/6/2024, bị bắt và bị tạm giữ, tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực thành phố T cho đến nay; có mặt.

  1. Nguyễn Phương T1, sinh năm 2001 tại tỉnh Bình Dương; nơi cư trú: tổ C, khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; dân tộc: Gia Rai; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T2 và bà Nguyễn Thị H1; tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân: ngày 30/12/2024 bị bắt, tạm giam về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; ngày 09/01/2025 bị khởi tố bị can về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” (BL 198). Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B; có mặt.

· Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Bà Phạm Thị Ngọc K, sinh năm 1970; nơi thường trú: tổ B, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn xin vắng mặt.
  2. Bà Phạm Thị Ngọc Y, sinh năm 1973; nơi thường trú: số D, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Huỳnh Trường G, Bùi Thanh P và Nguyễn Phương T1 có mối quan hệ quen biết nhau.

Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 05/6/2024, G đi bộ đến quán C1 thuộc tổ A, khu phố B, phường T, thành phố T ngồi uống nước. Khoảng 10 phút thì G nhắn tin rủ P đến quán để uống nước thì P đồng ý. Sau đó, P điều khiển xe đạp điện đến gặp G, tại đây G rủ P cùng sử dụng ma túy thì P đồng ý. Lúc này, G lấy điện thoại di động hiệu Iphone 6 plus màu vàng nhắn tin qua mạng xã hội zalo cho T1 có tên nickname “Nguyễn Phương T1” hỏi mua ma túy với số tiền 200.000 đồng thì T1 đồng ý. Sau đó, G dùng ứng dụng momo chuyển qua tài khoản tên NGUYEN PHUONG THAO số tiền 200.000 đồng, rồi kêu P chạy đến khu vực phía trước quán C2 gần cầu V thuộc phường T, thành phố T để lấy ma túy về sử dụng. P điều khiển xe đạp điện đến phía trước quán C2 thì gặp T1, T1 đưa cho P 01 (một) gói nylon hàn kín bên trong có chất tinh thể màu trắng là ma túy. P cầm ma túy trên tay phải rồi điều khiển xe quay lại quán C1. Lúc này, G chỉ cho P lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế để sẵn trên mái chòi lá nơi G đang ngồi, P lấy 01 (một) gói nylon hàn kín bên trong có chứa ma túy cắt và đổ vào nỏ thủy tinh một ít, số ma túy còn lại P đưa cho G hàn kín lại và để phía dưới võng chỗ G đang ngồi, G dùng quẹt gas đốt ma túy trong nỏ thủy tinh lên rồi G với P thay phiên nhau sử dụng ma túy. Đến khoảng 17 giờ 20 phút ngày cùng ngày, Công an phường T kiểm tra hành chính tại quán cà phê Trâm A phát hiện tại vị trí G và P ngồi có 01 gói nylon hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng. G và P cùng khai nhận là ma túy mua cất giấu nhằm mục đích sử dụng nên Công an phường T niêm phong số ma túy nêu trên và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với G và P; đồng thời thu giữ vật chứng gồm: 01 nỏ thủy tinh bên trong có chất màu nâu; 01 gói nylon hàn kín bên trong có chứa tinh thể màu trắng; 01 vỏ chai nước suối; 01 ống hút; 01 chiếc xe đạp điện màu đen.

Quá trình điều tra G và P cùng khai nhận: ngoài lần sử dụng ma túy vào ngày 05/6/2024 thì ngày 04/6/2024, G mua ma túy của T1 với số tiền 100.000 đồng, sau đó rủ P đến quán cà phê Trâm A để cùng sử dụng ma túy.

Ngoài ra, G còn khai nhận đã mua ma túy của Nguyễn Phương T1 được 06 lần tại khu vực phía trước quán cà phê sân vườn T gần cầu V thuộc phường T, thành phố T. Cụ thể: ngày 08/5/2024: mua 200.000 đồng, ngày 13/5/2024: mua 150.000 đồng, ngày 13/5/2024: mua 150.000 đồng, ngày 20/5/2024, mua 200.000 đồng, ngày 27/5/2024: mua 200.000 đồng, ngày 04/6/2024: mua 100.000 đồng và ngày 05/6/2024: mua 200.000 đồng.

Dựa trên lời khai của G và P, Công an thành phố T tiến hành lấy lời khai đối với Nguyễn Phương T1 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Tân Uyên, do T1 đang bị tạm giam trong vụ án khác. Tại đây, T1 khai nhận đã bán ma túy cho G được 06 lần như lời khai của G, tổng số tiền bán ma túy là 1.200.000 đồng. Tất cả các lần mua bán ma túy đều thực hiện tại khu vực phía trước quán cà phê sân vườn T, trong đó có 05 lần T1 giao ma túy trực tiếp cho G, còn 01 lần giao cho P là ngày 05/6/2024, do P nói đi lấy giùm cho G. Nguồn ma túy T1 bán cho G là do T1 mua của người phụ nữ tên N (không rõ lai lịch) tại khu vực cầu P thuộc phường T, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh.

Tại Kết luận giám định số 2718/KL-KTHS (MT) ngày 13/6/2024 của Phòng K2 kết luận: Tinh thể màu trắng trong 01 gói ny lon hàn kín có khối lượng 0,1004 gam, loại Methamphetamine; Mẫu tinh thể màu trắng màu nâu trong nỏ thủy tinh có khối lượng 0,0486 gam, loại Methamphetanine (BL09).

Tại Cáo trạng số 139/CT-VKSTU ngày 09/5/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo Nguyễn Huỳnh Trường G về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; bị cáo Bùi Thanh P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự; bị cáo Nguyễn Phương T1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên trình bày lời luận tội trong đó có nội dung: giữ nguyên quyết định cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo; đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo.

- Về hình phạt:

  1. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm a khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 38, 56, 58 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Nguyễn Huỳnh Trường G:
    • Từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
    • Từ 07 năm đến 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  2. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; các Điều 17, 38, 56, 58 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Bùi Thanh P:
    • Từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
    • Từ 02 năm đến 03 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  3. Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Nguyễn Phương T1 từ 08 năm đến 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

Đề nghị tịch thu tiêu hủy ma túy, nỏ thủy tinh bị thu giữ, trả lại xe đạp điện cho bà K.

Buộc bị cáo Nguyễn Phương T1 nộp số tiền thu lợi bất chính là 1.200.000 đồng.

Các bị cáo trình bày ý kiến tranh luận: các bị cáo thống nhất luận tội của đại diện Viện Kiểm sát và không có ý kiến.

Các bị cáo nói lời sau cùng: các bị cáo rất ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về thủ tục tố tụng:
  2. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

  3. [2] Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên đã truy tố đối với các bị cáo. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

    Ngày 05/6/2024, tại quán C1 thuộc khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, các bị cáo Nguyễn Huỳnh Trường G và Bùi Thanh P có hành vi tổ chức cho nhau sử dụng trái phép chất ma túy và có hành vi tàng trữ trái phép 0,1490 gam ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang. Ngoài ra vào ngày 04/6/2024 tại quán cà phê Trâm A, bị cáo Nguyễn Huỳnh Trường G còn có hành vi tổ chức cho Bùi Thanh P sử dụng trái phép chất ma túy.

    Hành vi của bị cáo Nguyễn Huỳnh Trường G đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung “Heroine, C, Methamphetamine, A1, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung “Đối với 02 người trở lên” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

    Hành vi của bị cáo Bùi Thanh P đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung “Heroine, C, Methamphetamine, A1, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

    Khoảng thời gian từ ngày 08/5/2024 đến ngày 05/6/2024, tại khu vực gần cầu V thuộc phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, bị cáo Nguyễn Phương T1 đã bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Huỳnh Trường G sáu lần, thu lợi bất chính tổng số tiền 1.200.000 đồng. Hành vi của bị cáo Nguyễn Phương T1 đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung “Phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

    Do vậy, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

  4. [3] Hành vi phạm tội mà các bị cáo thực hiện là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý các chất gây nghiện của Nhà nước. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc tàng trữ, mua bán, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là trái pháp luật, nếu bị phát hiện sẽ bị trừng trị nghiêm khắc nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo G và P đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo P còn bị kết án về tội “Đánh bạc”, bị cáo T1 sau khi thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án này lại tiếp tục thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong vụ án khác. Điều đó cho thấy bị cáo không biết sửa đổi, khắc phục hành vi sai trái, vi phạm pháp luật của mình để làm người lương thiện, sống có ích cho xã hội mà còn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thể hiện thái độ xem thường pháp luật, bất chấp mọi hậu quả xảy ra. Do đó, cần có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo để có tác dụng giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

  5. [4] Về vai trò đồng phạm của các bị cáo:
  6. Vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, không có sự phân công vai trò, nhiệm vụ cụ thể. Trong đó: bị cáo Nguyễn Huỳnh Trường G là người rủ rê bị cáo Bùi Thanh P sử dụng ma túy, trực tiếp liên hệ mua ma túy, cung cấp ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy cho P sử sụng; bị cáo Bùi Thanh P là người đi mua ma túy cho bị cáo G một lần. Như vậy, bị cáo G giữ vai trò quan trọng hơn nên phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo P.

    Bị cáo Nguyễn Phương T1 một mình bán ma túy cho G và P nên không có vai trò đồng phạm trong vụ án.

  7. [5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
  8. Ngày 25/5/2018, bị cáo Bùi Thanh P bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương xử phạt 30.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2018/HS-ST, đến ngày 17/4/2025 bị cáo P mới đóng tiền phạt nên chưa được xóa án tích theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 70 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, bị cáo P phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

  9. [6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

  10. [7] Về hình phạt bổ sung: do các bị có không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

  11. [8] Đối chiếu với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy, mức hình phạt đại diện Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp.

  12. [9] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
  13. Đối với ma túy thu giữ, 01 vỏ chai nước suối, 01 ống hút là vật chứng trong vụ án và là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Đối với 01 điện thoại di động thu giữ của bị cáo G là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Đối với 01 xe đạp điện màu đen là tài sản của bà Phạm Thị Ngọc K, bà K cho P mượn xe để làm phương tiện đi làm, không biết P sử dụng xe vào việc phạm tội nên cần trả lại cho chủ sở hữu theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Do bị cáo Nguyễn Phương T1 bán ma túy thu lợi bất chính số tiền 1.200.000 đồng nên buộc bị cáo phải nộp số tiền nêu trên vào ngân sách Nhà nước.

  14. [10] Đối với đối tượng tên N có hành vi bán ma túy cho Nguyễn Phương T1, do chưa xác định được lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B sẽ tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ là phù hợp.
  15. [11] Về án phí sơ thẩm: các bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Huỳnh Trường G và Bùi Thanh P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phương T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

  1. Về trách nhiệm hình sự:
    1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm a khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 38, 56, 58 của Bộ luật Hình sự:
    2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Huỳnh Trường G 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

      Buộc bị cáo Nguyễn Huỳnh Trường G chấp hành hình phạt chung cả hai tội là 10 (mười) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/6/2024.

    3. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; các Điều 17, 38, 56, 58 của Bộ luật Hình sự:
    4. Xử phạt bị cáo Bùi Thanh P 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 03 (ba) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

      Buộc bị cáo Bùi Thanh P chấp hành hình phạt chung cả hai tội là 05 (năm) tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/6/2024.

    5. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Nguyễn Phương T1 09 (chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
  2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
  3. Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các Điều 47 và 48 của Bộ luật Hình sự.

    - Tịch thu tiêu hủy:

    • 01 (một) bì thư niêm phong kí hiệu 2718/PC09 niêm phong có chữ ký của người bị bắt Nguyễn Huỳnh Trường G, Bùi Thanh P; người chứng kiến Trần Quốc T3; cán bộ niêm phong Lê Văn V, Đại úy Võ Đặng Anh K1 (Phó trưởng Công an phường) và dấu mộc tròn của Công an phường T; dấu đỏ niêm phòng của Phòng K2 Công an tỉnh B, bên trong chứa: 01 (một) gói nylon hàn kín chứa chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M1), 01 (một) nỏ thủy tinh bên trong chứa chất màu nâu (ký hiệu M2) đều là ma túy loại Methamphetamin còn lại sau giám định, theo Kết luận giám định số 2718/KL-KTHS (MT) ngày 13/6/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh B.
    • 01 (một) vỏ chai nước suối.
    • 01 (một) ống hút.

    - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus (tình trạng đã qua sử dụng, không đọc được số I, không khởi động được).

    - Trả lại cho bà Phạm Thị Ngọc K 01 xe đạp điện màu đen (đã qua sử dụng).

    Buộc bị cáo Nguyễn Phương T1 nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền thu lợi bất chính là 1.200.000 (một triệu hai trăm nghìn) đồng.

    (Theo Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 15 tháng 5 năm 2025).

  4. Về án phí hình sự sơ thẩm:
  5. Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc các bị cáo Nguyễn Phương T1, Nguyễn Huỳnh Trường G và Bùi Thanh P, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

    Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Phòng PV06, Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Tân Uyên;
  • - Chi cục THADS thành phố Tân Uyên;
  • - Phân trại tạm giam khu vực thành phố Thủ Dầu Một (2);
  • - Trại Tạm giam Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Người tham gia tố tụng (5);
  • - Lưu: Văn thư, hồ sơ, 15.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 113/2025/HS-ST ngày 10/06/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương về hình sự sơ thẩm

  • Số bản án: 113/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger