|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 113/2025/HS-PT Ngày 19 - 11 - 2025 |
---------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Doanh.
- Các Thẩm phán: Ông Dương Văn Bản và ông Hoàng Văn Giang.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Khánh Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Nông Quốc Việt - Kiểm sát viên.
Ngày 19/11/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 103/2025/TLPT-HS ngày 13/10/2025 đối với bị cáo Nguyễn Tuấn A do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tuấn A đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 71/2025/HS-ST ngày 04/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên.
Bị cáo kháng cáo:
Họ và tên: Nguyễn Tuấn A; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 01 tháng 10 năm 1981 tại Hà Nam; Nơi đăng ký HKTT: Tổ A, phường P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (nay là phường P, tỉnh Thái Nguyên); Nơi ở hiện tại: Tổ G, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (nay là phường P, tỉnh Thái Nguyên); Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông Nguyễn Thanh S và bà: Lê Thị N; vợ là Nguyễn Thanh T (đã ly hôn); con: Có 02 con.
- Tiền án: 04 (Bốn) tiền án, cụ thể:
- + Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 51/2003/HSST ngày 30/6/2003 của Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xử phạt 8 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999. Chấp hành xong khoản án phí ngày 28/4/2006.
- + Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 109/2005/HSST ngày 09/6/2005 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 24 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 2 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999. Tổng hợp hình phạt với Bản án hình sự sơ thẩm số 51/2003/HSST ngày 30/6/2003 của Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội, chuyển 08 tháng tù cho hưởng án treo thành 08 tháng tù có thời hạn, buộc Tuấn A phải chấp hành chung cho hai bản án là 32 tháng tù. Đã thi hành khoản án phí ngày 05/6/2006. Chưa chấp hành khoản bồi thường dân sự cho bị hại Trần Bảo N1 số tiền 15.500.000 đồng.
- + Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 357/2007/HSST ngày 14/8/2007 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử phạt 36 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 2 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999. Tổng hợp hình phạt với Bản án hình sự sơ thẩm số 109/2005/HSST ngày 09/6/2005 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên buộc Tuấn A phải chấp hành hình phạt chung cho 2 bản án là 68 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/12/2009. Đã thi hành khoản án phí ngày 14/7/2016. Đối với khoản bồi thường 78.204.000 đồng cho bị hại Đỗ Minh H. Năm 2012, bị hại chết, bị cáo Nguyễn Tuấn A khai chưa bồi thường cho ông H.
- + Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2015/HSST ngày 16/1/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xử phạt 13 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 4 Điều 140 Bộ luật Hình sự năm 1999. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/3/2023.
Bị bắt tạm giam từ ngày 24/4/2025, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh T (Có mặt tại phiên tòa).
* Trong vụ án còn có bị hại Vũ Thị L, những người làm chứng Nguyễn Thị P, Dương Văn K không liên quan đến kháng cáo, Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chị Vũ Thị L, sinh năm 1979, HKTT: Tổ I, phường P, tỉnh Thái Nguyên có quan hệ kinh doanh, buôn bán với Nguyễn Thị P, sinh năm 1974, HKTT: Tổ dân phố Đ, phường L, tỉnh Thái Nguyên do thường xuyên nhập hàng hoa quả của P để bán tại cửa hàng của mình thuộc tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (nay là phường P, tỉnh Thái Nguyên) từ khoảng năm 2000 đến nay. Hiện tại, chị L còn nợ P tổng số tiền nhập hàng là 2.386.000.000₫ (Hai tỷ ba trăm tám mươi sáu triệu đồng). Ngày 13/11/2024, Nguyễn Tuấn A đến nhà chị P chơi và được biết về số tiền hàng chị L còn nợ P như trên. Khi nghe chị P kể về số tiền chị L còn nợ tiền hàng và khó khăn trong việc kinh doanh, Tuấn A không tin và nói muốn đến trực tiếp để xem nội dung cụ thể.
Khoảng 15 giờ ngày 14/11/2024, khi chị L đang bán hàng thì P và Tuấn A đến. Quá trình nói chuyện, P xác nhận là đang nợ tiền Tuấn A và hiện tại P không có khả năng chi trả. Do chị L còn nợ tiền P1 và P1 còn nợ tiền Tuấn A, nên cả ba người cùng thống nhất là chị L sẽ trả tiền cho Tuấn A. Chị L đồng ý và viết lại giấy vay tiền thành vay của Tuấn A với tổng số tiền vay bằng với số tiền chị L nợ P1 là 2.386.000.000 đồng. Sau đó, Tuấn A cầm các tờ giấy này rồi cùng P1 ra về.
Khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 15/11/2024, Tuấn A cùng Dương Văn K, sinh năm 1990, HKTT: Tổ D, phường T, tỉnh Thái Nguyên đến cửa hàng của chị L. Tuấn A đi vào và bảo một vài người khách ở cửa hàng của chị L đi mua ở hàng khác để Tuấn A nói chuyện với chị L về việc trả nợ. Khi nói chuyện chị L nói hiện tại chưa có tiền và hẹn trả theo tháng mỗi tháng trả từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng thì Tuấn A liên tục nói chị L lừa đảo và hỏi chị L “Có trả tiền không”. Chị L tiếp tục trình bày sẽ thu xếp trả dần. Tuấn A không đồng ý và có lời nói thô tục, chửi bới chị L, còn K ngồi ở ghế gần vị trí chị L. Chị L tiếp tục trình bày về việc sẽ thu xếp trả dần thì Tuấn A không đồng ý, tiếp tục có lời nói thô tục, chửi bới chị L và dọa “nó lại bảo mỗi tháng trả 5,10 triệu, bố mày cắt cổ mày bây giờ”. Lúc này, chị L vẫn ngồi tại ghế bán hàng nghe và giải thích, tuy nhiên Tuấn A không đồng ý số tiền 5.000.000 đồng chị L đề xuất trả. Sau đó, Tuấn A và K lên xe rời đi, trước khi lên xe Tuấn A dọa sẽ tuyên truyền việc chị L nợ tiền không trả cho mọi người biết, dọa sẽ cho người xuống trường các con chị L và đưa ảnh của chị L và con chị L lên facebook nếu không trả tiền. Khoảng 15 phút sau, Tuấn A quay lại cửa hàng chị L. Do sợ những lời Tuấn A đe dọa là thật nên chị L đã đưa cho Tuấn A số tiền 5.000.000 đồng tiền mặt.
Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, Tuấn A gọi điện cho chị L hỏi có ở cửa hàng không để qua lấy tiền thì chị L nói đang đi giao hàng, không ở cửa hàng. Đến 18 giờ 28 phút chị L chuyển số tiền 5.000.000 đồng từ tài khoản Ngân hàng TMCP Q - M số 577788 chủ tài khoan VU THI LIEU của chị L đến tài khoản Ngân hàng T1 số 9666669996 chủ tài khoản NGUYEN TUAN ANH của Tuấn A.
Những ngày sau đó, Tuấn A nhiều lần gọi điện và đến cửa hàng chị L để hỏi về số tiền nợ thì chị L xin khất để trả sau. Khi nghe Tuấn A nhiều lần có lời nói thô tục, chửi bới và đe dọa nên chị L lo sợ sẽ làm ảnh hưởng đến cuộc sống, công việc và gia đình. Ngày 06/12/2024 chị L đã viết đơn trình báo cơ quan Công an đề nghị giải quyết.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 71/2025/HS-ST ngày 04/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên đã quyết định:
Căn cứ điểm e, khoản 2, Điều 170; điểm b, s khoản 1 và khoản 2, Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 136, 292, 293, Điều 299, Điều 326, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn A phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
Về hình phạt: Xử phạt Nguyễn Tuấn A 5 (năm) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giam 24/4/2025.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 15/9/2025, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã cung cấp được các tình tiết giảm nhẹ mới, quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự chấp nhận đơn kháng cáo, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 71/2025/HS-ST ngày 04/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên.
Áp dụng điểm e, khoản 2, Điều 170; điểm b, s khoản 1 và khoản 2, Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 36 đến 39 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Ghi nhận bị cáo đã nộp số tiền án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng tại Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên. Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo đảm bảo về chủ thể và thời hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, nên được HĐXX xem xét theo quy định.
[2] Tại phiên tòa, qua phần xét hỏi công khai bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã tuyên; Lời khai nhận phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, HĐXX có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 15/11/2024, tại tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (nay là phường P, tỉnh Thái Nguyên), Nguyễn Tuấn A có hành vi đe dọa dùng vũ lực uy hiếp tinh thần của chị Vũ Thị L để chiếm đoạt số tiền 10.000.000 đồng.
Bị cáo đã có nhiều tiền án chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi phạm tội này thuộc vào trường hợp Tái phạm nguy hiểm theo quy định tại khoản 2, Điều 53 Bộ luật Hình sự. Do vậy hành vi phạm tội lần này của bị cáo là tình tiết định khung hình phạt thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm và đã đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm e, khoản 2, Điều 170 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan.
[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo:
Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng trước khi thực hiện hành vi cưỡng đoạt tài sản vào ngày 15/11/2024, bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần bị xử lý hình sự về các tội xâm phạm quyền sở hữu nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội, thể hiện thái độ coi thường pháp luật nên cần phải áp dụng một hình phạt nghiêm khắc. Cấp sơ thẩm đã căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo để quyết định mức hình phạt là 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đảm bảo tính giáo dục cho bị cáo và tính răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, gia đình bị cáo nộp bổ sung các tài liệu, chứng cứ là Huy hiệu 40 năm tuổi đảng của bố đẻ bị cáo là ông Nguyễn Thanh S và biên lai thu tiền án phí hình sự sơ thẩm. Đây là tình tiết giảm nhẹ mới nên HĐXX cần chấp nhận kháng cáo, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Ghi nhận bị cáo nộp số án phí hình sự sơ thẩm tiền 200.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0000644, ngày 04/11/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên.
[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tại phiên tòa phúc thẩm là có căn cứ, phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.
[5] Về án phí: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[6] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tuấn A, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 71/2025/HS-ST ngày 04/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên.
- - Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 170; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tuấn A phạm tội "Cưỡng đoạt tài sản".
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tuấn A 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 24/4/2025.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
Bị cáo Nguyễn Tuấn A không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Ghi nhận bị cáo nộp số án phí hình sự sơ thẩm tiền 200.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0000644, ngày 04/11/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên.
Về biện pháp ngăn chặn: Căn cứ Điều 347 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tạm giam bị cáo Nguyễn Tuấn A 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án phúc thẩm để bảo đảm việc thi hành án.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thế Doanh |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Dương Văn Bản |
Nguyễn Thế Doanh |
|
Hoàng Văn Giang |
Bản án số 113/2025/HS-PT ngày 19/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự (cưỡng đoạt tài sản)
- Số bản án: 113/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cưỡng đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tuấn A - Cưỡng đoạt tài sản
